Sách Khải Huyền – “Hãy Viết” Lần Thứ Sáu (Phần 1)

337

“Ngươi cũng hãy viết thơ cho thiên sứ của Hội thánh Thi-a-ti-rơ rằng: Nầy là lời phán của Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa, và chân như đồng sáng: ta biết công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa. Nhưng điều ta trách ngươi, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng.” – Khải-huyền 2:18-20.


Thi-a-ti-rơ là thành phố ít quan trọng nhất trong bảy thành phố, đây không phải là một trung tâm tôn giáo hay chính trị, mà là một nơi buôn bán và thương mại. Các cuộc làm ăn cho vay mà các bang hội đang phát triển mạnh ở đó là rất rõ ràng. Các thành viên của bang hội đã cùng nhau ăn những bữa ăn mà họ dâng lên cho một vị thần nào đó của họ và đó là điều gây ra những khó khăn cho các Cơ Đốc Nhân. Thực tế là không thể tham gia thương mại và công nghiệp nếu không có tư cách thành viên như vậy. Một số Cơ Đốc Nhân nói rằng: Ô, những vị thần ngoại giáo không thực sự tồn tại; không có vấn đề gì với việc trở thành thành viên và tham gia vào những bữa ăn này. Những người khác nói: Không, đó không chỉ là khúc mắc – còn hơn thế nữa vì những bữa ăn này thường kết thúc một cách phóng túng bừa bãi!

Các bang hội của Thi-a-ti-rơ có những việc làm giống như những người mà chúng ta đã thấy người ngoại đạo đã làm ở Ê-phê-sô và Bẹt-găm. Có phải Lydia, người làm nghề buôn hàng sắc tía, là một thành viên của bang hội như vậy không? Công vụ 16: 11-15 và 40, “Vậy, chúng ta từ thành Trô-ách đi thuyền thẳng đến đảo Sa-mô-tra-xơ; bữa sau, đến thành Nê-a-bô-li; 12. từ nơi đó, chúng ta tới thành Phi-líp, là thành thứ nhất của tỉnh Ma-xê-đoan, và là thuộc địa nước Rô-ma. Chúng ta ở tạm đó vài ngày. 13. Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng rằng người ta nhóm lại đặng cầu nguyện; chúng ta ngồi xong, giảng cho những đàn bà đã nhóm lại. 14. Có một người trong bọn đó nghe chúng ta, tên là Ly-đi, quê ở thành Thi-a-ti-rơ, làm nghề buôn hàng sắc tía, vẫn kính sợ Đức Chúa Trời. Chúa mở lòng cho người, đặng chăm chỉ nghe lời Phao-lô nói. 15. Khi người đã chịu phép báp-tem với người nhà mình rồi, thì xin chúng ta rằng: Nếu các ông đã đoán tôi là trung thành với Chúa, thì hãy vào nhà tôi, mà ở lại đó; rồi người ép mời vào… 40.Họ [Paul và Silas những người đã bị bắt và tống vào nhà tù ở Thi-a-ti-rơ] đi ra khỏi nhà tù và vào nhà của Lydia, và khi họ thấy anh em, họ khích lệ những anh em đó và rời đi.” Rõ ràng Lydia cũng có một ngôi nhà ở thành Philip.

“Những việc làm” được đề cập rõ ràng là trọng tâm trong bức thư gửi đến cho hội thánh này. Những hành động của họ được nhắc đến rất hay theo ba khía cạnh: việc làm và tình yêu; đức tin và sự phục vụ; sự nhịn nhục và các việc làm sau đó thậm chí còn lớn hơn lúc đầu. Những hành động này được đề cập không dưới năm lần trong thư tín này.

Đấng Christ phục sinh bày tỏ chính Ngài cho bảy hội thánh mỗi lần theo một cách khác nhau. Lúc này, Ngài nói: Ta là Con của Đức Chúa Trời. Đây là lần duy nhất Ngài nói đến chính Ngài theo cách này, mặc dù trong nhiều dịp, người ta nói rằng Đức Chúa Trời là Cha của Đấng Christ (Khải huyền 1: 6; 2:27; 3: 5 và 21; 14: 1). Các tín đồ Cơ Đốc cũng được gọi là con trai / con gái của Chúa: “Kẻ nào thắng sẽ được thừa hưởng những điều này, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của người và người sẽ là con Ta. Danh hiệu ‘Con trai của Đức Chúa Trời’ được sử dụng trong Thi-thiên 2: 7: Ta sẽ giảng ra mạng lịnh Đức Giê-hô-va, Ngài phán cùng ta rằng: Ngươi là Con ta; Ngày nay ta đã sanh Ngươi.

“Đầu và tóc người trắng như lông chiên trắng, như tuyết; mắt như ngọn lửa; chân như đồng sáng đã luyện trong lò lửa, và tiếng như tiếng nước lớn.” Khải huyền 1:14-15. Ngài nhìn thấu mọi sự, Ngài tức giận về sự bất công và sẵn sàng giẫm đạp mọi kẻ thù của con cái thật của Ngài dưới chân.

“Vậy, hãy ăn năn; kẻo ta sẽ đến mau chóng và sẽ đánh giặc cùng chúng bằng lưỡi gươm của miệng Ta.”

Lúc đầu hội thánh được khen ngợi. Nó đã hành động như một trái của tình yêu và sự phục vụ (‘diakonia,), như một trái của đức tin. Thật vậy, trái ngược với Ê-phê-sô, không có lời trách móc nào về việc mất tình yêu đầu tiên của họ, không có sự hô hào nào để làm lại các công việc lúc ban đầu. Đấng Christ thậm chí còn nói rằng sự nhịn nhục trong tình yêu của họ cho thấy những công việc cuối cùng của họ thậm chí còn nhiều hơn những công việc lúc ban đầu! Tình yêu đích thực lớn lên và sẽ sinh hoa trái; nó không tập trung cách cằn cỗi vào chính mình. Thật được phước khi ban cho hơn là nhận lãnh. Sứ đồ Phao-lô viết trong Công vụ 20:35, “Tôi từng bảo luôn cho anh em rằng phải chịu khó làm việc như vậy, để giúp đỡ người yếu đuối, và nhớ lại lời chính Đức Chúa Jêsus có phán rằng: Ban cho thì có phước hơn là nhận lãnh. Đức tin và tình yêu đi đôi với sự trung tín và nhịn nhục.  1 Ti-mô-thê 1: 5, “Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra..” 1 Ti-mô-thê 6: 10-11, “Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn. 11. Nhưng, hỡi con, là người của Đức Chúa Trời, hãy tránh những sự đó đi, mà tìm điều công bình, tin kính, đức tin, yêu thương, nhịn nhục, mềm mại.”

Kết hôn có nghĩa là chung thủy. Trong tiếng Hà Lan, từ dành cho hôn nhân là ‘trouw-en’, nghĩa là ‘luôn trung thành, ‘chân thật’ đối với nhau hết cả cuộc đời. Điều đó cũng giống như mối quan hệ của Đấng Christ với Hội Thánh của Ngài. Và điều đó cũng tương tự như đối với một người nam và một người nữ trong hôn nhân. Nguồn là tình yêu và bạn phát triển tiến về nhau ngày càng nhiều hơn trong hôn nhân, do đó những việc làm cuối cùng sẽ lớn hơn những việc làm lúc ban đầu, và hạnh phúc tăng lên thay vì giảm đi. Trong khái niệm của bảy thư tín gửi cho bảy hội thánh cũng đại diện cho bảy giai đoạn trong lịch sử Giáo hội, Thi-a-ti-rơ đại diện cho giai đoạn từ năm 800-1520 cho đến khi bắt đầu thời kỳ Cải Cách.

Ý nghĩa tên của bảy hội thánh là: Ê-phê-sô – người khao khát; Si-miệc-nơ – chất nhựa thơm, cay đắng; Bẹt-găm – ‘triệt để kết hôn, hoặc cũng là tháp, pháo đài; Thi-a-ti-rơ – Con gái hoặc nữ chiếm ưu thế; Sạt-đe – một tàn dư đã trốn thoát; Phi-la-đen-phi – tình anh em; Lao-đi-xê – con người cai trị, dân chủ, quyền lực cho con người.

“Nhưng điều ta trách ngươi, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng.” Khải huyền 2:20.

Sau khi khen ngợi, Chúa Giê-xu phục sinh cũng có những phê bình. Ngài đã đề cập đến một người nữ Giê-sa-bên trong Cựu Ước. I Các Vua 16:30-33 “A-háp, con trai Ôm-ri, làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va hơn hết thảy các người tiên bối mình. 31. Vả, người lấy sự bắt chước theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, làm nhỏ mọn, nên người đi lấy Giê-sa-bên, con gái Ết-ba-anh, vua dân Si-đôn, mà làm vợ; người cũng đi hầu việc Ba-anh và thờ lạy nó. 32. Người lập một bàn thờ cho Ba-anh tại trong miễu của Ba-anh mà người đã cất tại Sa-ma-ri. 33. A-háp cũng dựng lên một hình tượng Át-tạt-tê. Vậy, A-háp làm nhiều điều ác, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hơn các vua Y-sơ-ra-ên trước mình.

Vì vậy, người nữ Giê-sa-bên là vợ của Vua A-háp, con gái của Ết-ba-anh, vua của Si-đôn. Bà đã mang theo các vị thần của riêng mình, Ba-anh và Át-tạt-tê, cùng với bà từ vùng đất ngoại giáo của mình. A-háp, không nhạy cảm với các vấn đề tôn giáo miễn là quyền lực và sự giàu có được duy trì, không quan tâm và để bà ta có con đường của mình. Ở Israel, trong số những người của Chúa, có những bàn thờ ngoại giáo và những chiếc trụ thờ, và việc thực hành thờ cúng thần tượng và sự vô đạo đức tình dục là phổ biến.

Điều này bây giờ thậm chí còn đi xa hơn với Ba-la-am, người được nói đến tại Bẹt-găm.

Tác giả: Willem J.J Glashouwer – Christians for Israel International

Dịch & Biên tập: Cơ Đốc Nhân Vì Israel Quốc Tế.

Bình Luận: