Câu Chuyện Về Nhà Thông Thái Thứ Tư

520

Nhà thông thái thứ tư có tên là Artaban. Ông là một trong các nhà thông thái và sống tại đất nước Ba tư. Ông được biết đến là một người giàu có, học thức cao và đức tin mạnh mẽ. Artaban cùng với những người có học thức như mình nghiên cứu các phân đoạn Kinh Thánh về thời điểm mà Chúa Cứu Thế được sinh ra. Họ biết rằng có một ngôi sao mới sẽ xuất hiện và cùng đồng ý với nhau là Artaban sẽ dõi theo từ xứ Ba tư và những người còn lại sẽ quan sát từ vùng trời Ba-by-lôn.

Vào đêm mà Artaban tin rằng sẽ có dấu hiệu của Chúa Cứu Thế, ông bước ra ngoài hiên để ngắm bầu trời đêm. “Nếu ngôi sao xuất hiện, bọn họ sẽ đợi ta trong mười ngày, và rồi tất cả sẽ cùng nhau đi đến thành Giê-ru-sa-lem.  Ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi bằng cách bán hết cả sản vật và mua ba viên đá quý: một viên lam ngọc, hồng ngọc và ngọc trai. Ta định sẽ dâng tặng chúng làm của lễ cho Vị Vua.”

Khi ông thấy một tia sáng xanh ngắt được sinh ra từ bầu trời đêm, bọc lấy bởi sự huy hoàng rồi biến thành một khối cầu đỏ thẫm. Artaban cúi đầu: “Nầy là dấu hiệu”, ông nói. “Vị Vua đang đến, và ta sẽ đi tìm gặp Người.”

Con ngựa nhanh nhất của Artaban vẫn đang đợi ông, yên cương sẵn sàng trong chuồng ngựa, dậm chân một cách mất kiên nhẫn. Nó cũng háo hức với mục tiêu của ông chủ.

Khi Artaban đã leo lên lưng ngựa, ông nói: “Chúa ban phước để ta và mầy không ngã lòng và linh hồn hai ta sẽ không sa vào sự chết.”

Cả hai bắt đầu cuộc hành trình. Mỗi một ngày, con ngựa trung thành của Artaban càng thu hẹp khoảng cách đã định sẵn. Vào đêm thứ mười, cả hai tiếp cận vùng ngoại thành của Ba-by-lôn. Trên vùng đất hoang cằn phủ cọ, con ngựa của Artaban cảm thấy mệt nhọc và giảm tốc độ. Và rồi nó đứng yên một chỗ, cơ bắp run rẩy.

Artaban xuống ngựa. Ánh sao lờ mờ làm hiện ra một người đàn ông nằm giữa đường. Da người mang dấu hiệu của một căn bệnh chết chóc. Cơn ớn lạnh của sự chết hằn trên bàn tay gầy còm đó. Ngay khi Artaban quay người rời đi, tiếng thở hắt xuất phát từ miệng của người đàn ông. Artaban lấy làm tiếc vì không thể ở lại chữa trị cho người lạ mặt đang chết dần này, nhưng đây chính là thời khắc mà cả đời ông dành trọn và hướng đến. Ông không thể tự đánh mất phần thưởng mà suốt bao năm học hành, và đức tin của bản thân chỉ để thể hiện một chút lòng thương xót cho một người qua đường. Nhưng rồi làm sao ông có thể để mặc người đàn ông này chết trong cô đơn?

“Đức Chúa Trời của lẽ thật và nhân từ ôi”, Artanban cầu nguyện, “xin hãy dẫn dắt tôi con đường của sự khôn ngoan mà chỉ mỗi Ngài thấu hiểu”. Và rồi ông biết rằng mình không thể đi tiếp. Nhà thông thái không những là thầy thuốc mà còn là nhà thiên văn học.  Artaban mở nút thắt dây và bắt đầu việc chữa trị. Một vài giờ sau, bệnh nhân dần lấy lại được tiềm thức. Artaban đưa người đó tất cả những bánh và rượu mà ông có. Ông còn để lại bình dược liệu và chỉ dẫn để giúp người kia hồi phục.

Mặc dù Artaban cưỡi ngựa vội vã suốt cả chặng đường, mãi đến bình minh, ông mới đến được địa điểm hẹn. Chẳng có người bạn nào ở đó. Cuối cùng ông nhìn thấy mẩu giấy da được được bố trí nhằm thu hút sự chú ý của Artaban, tờ giấy viêt rằng: “Chúng tôi đã đợi anh tới tận nửa đêm, và không thể trì hoãn thêm nữa. Chúng tôi sẽ đi tìm Vị Vua. Hãy theo chúng tôi qua sa mạc”. Artaban ngồi sụp xuống trong tuyệt vọng, hai tay che mặt. “Làm sao ta có thể vượt sa mạc không lương thực cùng với một con ngựa kiệt sức đây? Ta phải quay lại thành Ba-by-lôn , bán đi viên lam ngọc để mua lạc đà và đồ cung ứng cho cuộc hành trình, ta có thể không bao giờ bắt kịp bạn mình mất. Chỉ Chúa nhân từ mới biết ta có bị lạc khỏi đích đến ban đầu hay không bởi ta đã không chậm trễ trong việc bày tỏ lòng thương xót”.

Vài ngày sau đó khi Artaban đã đến được Bết-le-hem, đường phố hoang vắng. Có tin rằng Hê-rốt phái binh lính, trông như là ban hành thêm thuế mới, người dân dẫn chiên bò của mình tới các ngọn đồi, khuất khỏi quyền lực của Hê-rốt.

Cánh cửa một trong những ngôi nhà ở đó mở ra, Artaban có thể nghe thấy tiếng ru của người mẹ cho con mình. Ông bước vào và giới thiệu bản thân. Người phụ nữ cho ông biết đấy đã là ngày thứ ba kể từ khi ba nhà thông thái xuất hiện tại Bết-lê-hem. Họ tìm được Giô-sép, Ma-ri và đứa trẻ, dâng những món quà dưới chân Ngài. Sau đó họ biến mất một cách bí ẩn cũng như lúc họ tới. Giô-sép đem vợ và con trẻ cũng đêm ấy chạy trốn. Có lời thì thầm rằng họ đã chạy rất xa đến xứ Ê-díp-tô.

Khi Artaban nghe xong, đứa bé vươn tay chạm vào má ông và cười. Trái tim ông sưởi ấm bởi cái chạm ấy. Bỗng, bên ngoài vang lên những tiếng hỗn độn. Phụ nữ la hét. Một tiếng kêu la tuyệt vọng: “Binh lính của Hê-rốt đang tàn sát những đứa trẻ”.

Artaban đi đến cửa chính. Một nhóm binh lính vội vã ập xuống đường phố. Người chỉ huy đi tới cánh cửa định xô Artaban qua một bên, nhưng Artaban không hề bị khuấy động. Khuôn mặt ông điềm tĩnh như thể ông đang nhìn ngắm các vì sao. Rồi ông vươn tay ra từ trong áo, lấy ra viên hồng ngọc lớn. Ông nói: “Tôi đang chờ để được đưa viên đá quý này cho vị chỉ huy khôn ngoan, để người sẽ đi tiếp và không động vào ngôi nhà này”.

Vị chỉ huy, kinh ngạc bởi viên đá quý rực rỡ, cầm lấy và nói với lính của mình: “Tiếp tục hành quân, nhà này không có trẻ con”.

Artaban liền cầu nguyện: “Ôi Chúa ôi, xin tha thứ tội lỗi tôi, tôi đã lãng phí cho con người thứ đáng lẽ dành cho Chúa. Liệu tôi có còn xứng đáng để nhìn thấy gương mặt của Vua chăng?”

Nhưng tiếng của người phụ nữ vang phía sau lưng trong bóng đêm, khóc vì vui sướng, nhẹ nhàng nói: “Ngài đã cứu lấy mạng sống đứa con bé bỏng của tôi. Nguyện Đức Chúa Trời ban phước ngài, giữ gìn và ban cho ngài mọi sự bình an”.

Artaban, vẫn tiếp tục theo chân Vị Vua, lên đường đến xứ Ê-díp-tô tìm kiếm khắp mọi nơi dấu vết của gia đình nhỏ đã chạy trốn trước khi ông tới. Nhiều năm trôi qua, chúng ta vẫn đang theo dấu Artaban trong công cuộc kiếm tìm.  Chúng ta nhìn thấy ông ấy đi qua các tòa kim tự tháp. Chúng ta thấy ông khi vua Alexandria nhận lời khuyên từ một thầy dạy luật người Do Thái nói với người rằng hãy tìm kiếm Vua không phải giữa những người giàu nhưng là giữa những kẻ nghèo.

Ông đi qua nhiều xứ mà nạn đói đè nặng trên đất, kẻ nghèo kêu xin bánh. Ông ngụ tại thành phố phải chịu lấy cơn dịch bệnh khắc nghiệt. Ông đến thăm từ những kẻ áp bức tới người khốn khó nơi ngục tù. Ông tìm trong đám đông tại các chợ buôn nô lệ. Dù cho không tìm được ai để thờ phượng, ông lại tìm thấy nhiều người để phục vụ. Qua nhiều năm, ông cho những người đói ăn, mặc áo cho kẻ trần truồng, chữa những kẻ bệnh tật và an ủi những người bị giam cầm.

Ba mươi năm trôi qua kể từ lúc Artaban bắt đầu công cuộc tìm kiếm. Tóc ông bạc trắng như tuyết. Artaban biết rằng cuộc đời mình gần đi đến hồi kết, nhưng ông vẫn đau đáu hy vọng rằng mình sẽ tìm thấy được Vua. Ông quyết định đi tới Giê-ru-sa-lem lần cuối cùng.

Đương khi Lễ Vượt Qua, thành phố tràn ngập những kẻ lạ, Artaban thắc mắc không biết họ đang đi đâu. Một trong số họ trả lời: “Chúng tôi đang đi tới buổi hành quyết trên đồi Gô-gô-tha ở ngoại thành. Hai tên cướp sẽ bị đóng đinh, cùng với một gã được gọi là Giê-xu của thành Na-xa-rét, là người đã làm nhiều phép lạ giữa muôn người. Hắn tự nhận mình là Con của Đức Chúa Trời, các thành tế lễ và trưởng lão nói rằng kẻ đó phải chết. Phi-lát sẽ treo hắn ta lên thập tự.”

Kì lạ thay, những lời lẽ quen thuộc này thật cô đọng trong trái tim mệt nhọc của Artaban. Chúng đã dẫn lối cho ông đi xuyên từng mảnh đất và mỗi vùng biển suốt cả cuộc đời. Và giờ chúng quay trở lại như một thông điệp đầy tuyệt vọng. Vị Vua bị chối bỏ và bị ném ra ngoài. Có lẽ Người đang chết dần. Liệu đó có phải cùng một người mà ngôi sao đã hiện ra ba mươi năm về trước không?

Nhịp tim của Artaban dồn dập. Ông nghĩ rằng: “Ta sẽ có thể tới đó sớm tìm gặp Vị Vua và chuộc lấy Người khỏi bị xử tử bằng cách đưa báu vật ta có cho kẻ lân cận của Người.”

Nhưng khi Artaban bắt đầu hướng tới Đồi Sọ, ông thấy một toán lính đổ bộ xuống đường, kéo lê một thiếu nữ đang khóc nức nở. Artaban dừng lại, nàng trốn khỏi kẻ hành hạ mình mà quỳ dưới chân ông, nàng ôm chặt lấy đầu gối Artaban.

“Xin hãy thương xót tôi”, nàng khóc. “Và xin cứu tôi. Cha tôi cũng là một nhà thông thái, những ông ấy đã mất. Tôi phải bị bán đi cho bọn lính để trả nợ cho cha.”

Artaban một lần nữa rùng mình khi ông cảm thấy sự tranh chiến đang nổi dậy trong linh hồn mình. Nó giống như lần ông ở khu rừng cọ ở Ba-by-lôn và chiếc lều lại Bết-lê-hem. Hai lần món quà để ông dâng cho Vị Vua đều bị lấy đi để làm giá chuộc cho lòng nhân đạo. Liệu ông sẽ gục ngã thêm lần nữa? Ông biết rõ một điều, ông phải cứu người gái trẻ này khỏi những kẻ xấu xa kia.

Ông lấy ra viên ngọc trai đặt trên tay nàng và nói: “Hỡi con gái của ta, đây là tiền chuộc. Đó là báu vật cuối cùng mà ta đã hy vọng để dành cho Vị Vua.”

Đương lúc ông nói, bóng tối bao phủ trên trời trở nên dày đặc và một trận rúng động của cơn địa chấn chạy xuyên qua mặt đất. Mọi ngôi nhà rung chuyển. Binh lính kinh hãi bỏ chạy. Artaban giấu mình bên cạnh cái tường bảo vệ. Việc gì ông phải kinh sợ? Ông còn gì để hy vọng? Ông đã cho hết mọi lễ vật đáng lẽ dành cho Vua. Công cuộc tìm kiếm đã kết thúc và ông đã thất bại. Còn điều gì quan trọng nữa?

Trận động đất run rẩy dưới chân ông. Một miếng ngói nặng rung trên mái nhà, rơi xuống người Artaban. Ông nằm đó thở hổn hển, tái nhợt. Và rồi một giọng nói nhỏ xuyên qua từ thứ ánh sáng lờ mờ. Tựa như tiếng nhạc phía xa xăm. Thiếu nữ được cứu lại gần về phía Artaban và nghe ông thều thào: “Không phải như vậy, thưa Chúa; có khi nào tôi thấy Người đói mà cho Người ăn chăng? Hay lúc Người khát mà đưa nước cho Người uống chăng? Liệu khi tôi thấy Người bệnh hay trong ngục tù và đến bên Người chăng? Ba mươi năm tìm kiếm Người; nhưng tôi chưa từng thấy mặt Người; hay chăm sóc Người, Vua của tôi”.

Một giọng nói ngọt ngào truyền lại “Thật Ta nói cùng ngươi, rằng những việc ngươi làm cho một người thấp kém nhất trong những anh em này của Ta, tức là đã làm cho Ta.”

Một thứ ánh sáng chói lòa êm dịu và hạnh phúc thắp trên khuôn mặt Artaban khi hơi thở dài, cuối cùng thoát nhẹ ra từ miệng ông. Hành trình của Artaban đã kết thúc. Báu vật của ông đã được nhậm lấy. Nhà Thông Thái thứ tư đã tìm gặp được Vị Vua.

 

H.U dịch

Henry Van Dyke

Ảnh: youtube.com

 

Bình Luận: