Nan Đề Sáng Thế – Phần 2 và hết: Hawking không thể phủ nhận Chúa

210

Tóm lại, các mô hình vũ trụ vĩnh cửu đã sụp đổ. Vũ trụ học buộc phải quay lại với câu mở đầu của Sáng Thế ký: “In the beginning…”.

Nhưng tuyên bố của Hawking và Mlodinow, rằng vũ trụ có thể tự tạo ra nó từ hư không và Chúa không còn cần thiết nữa, thì sao?

Bất luận lý lẽ khoa học của Hawking và Mlodinow ra sao, bản thân tuyên bố của các ông đã vi phạm định luật bảo toàn vật chất – một trong những định luật cơ bản nhất của khoa học. Vứt bỏ định luật này cũng đồng nghĩa với vứt bỏ khoa học.

Nhưng phải chăng hư không có thể biến thành vật chất hữu hình, như tư tưởng sắc sắc không không của Nhà Phật?

Không! Không nên lẫn lộn khoa học và Phật giáo. Dù cho khoa học và Phật giáo có thể gặp nhau về tư tưởng ở một số điểm nào đó, một lập luận khoa học không thể vay mượn tư tưởng của Phật giáo để thay thế cho một chứng minh khoa học. Chứng minh của khoa học dựa trên logic và thực chứng, trong khi Phật giáo và tôn giáo nói chung đều tiệm cận tới chân lý thông qua con đường giác ngộ. Vả lại, tôi tin rằng một người tự tin, thậm chí tự phụ, như Hawking có lẽ cũng không bao giờ có ý định cầu viện đến Phật giáo hay bất cứ một niềm tin nào khác để biện hộ cho quan điểm của ông, bởi vũ trụ của ông là vũ trụ vật chất, vũ trụ hữu hình, vũ trụ vật lý, vũ trụ hiện thực. Vũ trụ ấy không có chỗ cho cái gọi là hư không!

Năm 2013, Giải Nobel vật lý được trao cho công trình khám phá ra Hạt Higgs – “Hạt của Chúa”. Đó là hạt truyền khối lượng cho các hạt khác. Điều đó có nghĩa là khoa học ngày nay không những biết rằng vật chất có khối lượng, mà còn biết rõ khối lượng ấy từ đâu mà ra. Vật chất có khối lượng và năng lượng làm nên cái vũ trụ hữu hình mà chúng ta đang sống trong đó, bản thân chúng ta cũng là thành phần của nó. Vũ trụ hữu hình này được lấp kín bởi vật chất, ở đâu có vật chất, ở đó có vũ trụ, và ngược lại, ở đâu có vũ trụ, ở đó có vật chất. E = mc2 là công thức thâu tóm toàn bộ vật chất trong vũ trụ. Vật chất ấy chỉ có thể biến đổi từ dạng này sang dạng khác, không tự nhiên mất đi và cũng không tự nhiên sinh ra. Từ bỏ mệnh đề này tức là từ bỏ khoa học. Vì thế, tuyên bố của Hawking và Mlodinow là tuyên bố phi khoa học! Hóa ra hai nhà khoa học đáng kính này, trong lúc quá say sưa bảo vệ thế giới quan của mình, đã vô tình đứng một chân trong khoa học, còn chân kia đứng nhầm sang siêu hình học.

Hawking cố tình phủ nhận Chúa, nhưng bản thân tuyên bố của ông lại vô tình thừa nhận Chúa – Chúa chính là tác giả của phép mầu biến cái hư không thành vũ trụ.

Vâng, quả thật khả năng biến hư không thành vũ trụ phải coi là một phép mầu – một phép mầu vĩ đại! Ai có khả năng làm phép mầu ấy thì ắt hẳn người đó phải là Chúa!

Nếu vũ trụ “tự nó” tạo ra phép mầu ấy thì vũ trụ chính là Chúa!

Hawking càng nói càng lúng túng, càng tự mâu thuẫn. Sự mâu thuẫn ấy có lúc bộc lộ ra ở mức độ có phần hài hước. Chẳng hạn như khi ông đáp lại những phê bình đối với cuốn Grand Design. Ông nói:

“Người ta không thể chứng minh Chúa không tồn tại, nhưng khoa học làm cho Chúa không cần thiết” (One can’t prove that God doesn’t exist, but science makes God unnecessary).

Rõ ràng vế đầu và vế sau của câu nói ấy là mâu thuẫn với nhau.

Đến đây không thể không nói rằng, thực ra, sự khác biệt giữa nhà khoa học vô thần và nhà khoa học hữu thần không nằm trong phạm vi khoa học, mà nằm trong tâm lý học nhận thức. Sự khác biệt ấy đã được Albert Einstein đề cập đến trong phát ngôn bất hủ sau đây:

“Có hai cách sống: bạn có thể sống như chẳng có cái gì là phép mầu cả; bạn có thể sống như mọi thứ đều là một phép mầu” (There are two ways to live: you can live as if nothing is a miracle; you can live as if everything is a miracle).

Genesis-Problem-4 Nói cách khác, bạn có thể không tin vào một phép mầu nào cả; hoặc bạn có thể tin rằng đằng sau cái thế giới hữu hình mà ta trông thấy, ẩn chứa những phép mầu vô hình không nhìn thấy, nhưng có thể cảm thấy.

Điều đó – khả năng tin vào phép mầu – không phụ thuộc vào học thuật, vào lý lẽ, mà phụ thuộc vào trực giác, khả năng cảm thụ, sự trải nghiệm, sự chiêm nghiệm.

Hawking là người không tin vào bất cứ một phép mầu nào cả; trong khi Jastrow ắt phải là người tin vào các phép mầu. Phép mầu vĩ đại nhất là sự sáng tạo ra vũ trụ: phép mầu Sáng Thế (Genesis Miracle)!

(Phần tiếp được viết thành một bài riêng nhan đề “Phép Mầu” (Miracles) đã được post lên trang PhamVietHung’s Home ngày 26/11/2013)

PVHg, Sydney 12/11/2013

 


[1] Sáng Thế tức là Sáng tạo ra Thế giới

[2] Từng là chủ tịch đầu tiên của Chương trình thám hiểm mặt trăng của NASA, trưởng ban lý thuyết của NASA, cha đẻ và giám đốc của Viện nghiên cứu không gian Goddard của NASA, giáo sư địa vật lý tại Đại học Columbia, giáo sư khoa học về trái đất tại Học viện Dartmouth, cha đẻ và chủ tịch danh dự của Viện George Marshall, giám đốc danh dự Đài quan sát thiên văn Mount Wilson…

[3] A point of creation would be a place where science broke down. One would have to appeal to religion and the hand of God. http://www.evolutionnews.org/2012/01/god_and_the_ast055041.html

Nguồn: Viethungpham.com

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com

Nan Đề Sáng Thế – Phần 1: Thất bại của các mô hình vũ trụ vĩnh cửu

Bình Luận: