Từ Vô Thần Đến Đầu Phục – Phần 2: Làm giàu nơi xứ người và biết về Chúa

317

Dù nhập học muộn nửa tháng, nhưng mọi chuyện khá là thuận lợi. Nhà trường phân cho chúng tôi một phòng tại ký túc xá cho 3 tân sinh viên Việt Nam (tôi và 2 bạn đi từ miền Bắc). Năm thứ nhất đại học trôi qua rất êm đềm. Học bổng 100 rúp/ tháng lúc bấy giờ sống khá sung túc, thậm chí còn thừa 10 rúp cuối tháng để đi xem phim. Nếu học toàn điểm 5 thì còn được thưởng thêm 10 rúp nữa. Nói chung cuộc sống toàn một màu hồng tích cực. Tôi thầm nghĩ, sau 3 chìm, 7 nổi, 9 lênh đênh nhờ “Quý nhân” phù hộ cuối cùng cũng được bình an và thạnh lợi. Tôi quyết tâm học tập, cố nuôi dưỡng ước mơ để có tấm bằng đại học và thành đạt.

Thế nhưng, người tính không bằng Trời tính. Ngày 18 tháng 8 năm 1991, một vụ đảo chính lật đổ Gorbachev khiến cho Liên Xô tan rã sau vài tiếng đại bác ở điện Kremlin. Đó là chuyện của nước người ta, nhưng lại ảnh hưởng gần như tuyệt đối đến số phận của sinh viên Việt nam chúng tôi. Đồng tiền Rúp Nga mất giá cách điên cuồng, từ học bổng 100 rúp có thể sống 1 tháng dư dật, bây giờ nó không đủ để ăn trong vài ngày. Nhiều sinh viên có điều kiện phải gọi viện trợ từ quê nhà, còn tôi, một lần nữa lại rơi vào cảnh đói nghèo, thiếu thốn đến tận cùng xương tủy… Tôi quyết định bán chiếc nhẫn 9999 (tài sản cuối cùng) và nằm trên giường với suy nghĩ: ngày mai mình sẽ ăn nốt số tiền này rồi chết hay có cách gì khác không? Một ý tưởng lóe lên (tôi cho rằng đó là “Quý nhân” đã phù hộ): ngày mai mình sẽ đi qua các trường khác thăm bạn bè, biết đâu có cơ hội để kiếm ra tiền từ số tiền ít ỏi này.

Vậy là điều kỳ diệu đã đến, qua giao lưu bạn bè, tôi biết được có một cách để kiếm tiền: thu mua USD của các sinh viên ngoại quốc rồi bán lại cho cộng đồng người Việt đang buôn bán ở đây. Họ đánh hàng từ Ba-lan, Thổ Nhĩ kỳ về và cần USD nên mua giá cao hơn ngân hàng. Thế là bắt đầu bằng cách đó, mua 1 đồng bán lại 1,2 để ăn chênh lệch, chẳng bao lâu tôi và anh bạn cùng phòng đã có một số tiền khá lớn. Tiền đến thì con người cũng trở nên khệnh khạng và tự tin hơn hẳn. Các anh năm trên ở trường gọi chúng tôi qua nhận tiền học bổng hàng tháng, chúng tôi nói là tặng cho các anh luôn, chúng tôi không còn cần đồng tiền chết đói đó nữa! Khi có tiền, chúng tôi ăn nhà hàng, đi lại bằng taxi. Việc học thì vẫn duy trì nhưng cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Tiền đối với tôi lúc đó như một vị thần. Đồng tiền cũng khiến tôi liều lĩnh hơn, sẵn sàng đi ban đêm đến nơi xa lạ để giao dịch một lượng tiền lớn với Tây.

Thế rồi việc gì đến sẽ đến. Xác chết ở đâu chim ó có ở đó. Ma-fi-a đánh hơi biết chúng tôi có tiền. Một buổi tối nọ, vừa mở cửa phòng để mua USD như thường lệ, thì lần này không phải là khách hàng mà là 3 vị to lớn đạp cửa xông vào, đè chúng tôi xuống, rút dao ra kề vào cổ, ra lệnh: “Tiền chúng mày ở đâu?” Tất cả tiền bạc chúng tôi làm được trong chốc lát đã ra đi. Tiếc tiền, tôi như người mất hồn, không ăn, không uống trong 3 ngày.

Chẳng có nỗi buồn nào là mãi mãi, cho dù nó có đến mạnh như thác lũ rồi cũng sẽ phải tan dần theo thời gian. Nỗi đau mất tiền bạc của tôi cũng vậy. Nó cũng đã vơi dần. Dù chỉ còn lại vài trăm USD trong túi, nhưng với uy tín vốn đã có, chúng tôi dễ dàng làm lại từ đầu. Rồi chỉ sau 1 năm chúng tôi đã có lại còn nhiều hơn số tiền đã mất.

Như có người đã từng nói, đừng sợ thất bại, vì trong thất bại bạn sẽ học và kinh nghiệm được nhiều điều và cơ hội thành công cho lần cố gắng tiếp theo sẽ cao hơn. Lần này, làm được bao nhiêu USD chúng tôi vo tròn như điếu thuốc và nhét vào bất kỳ chỗ nào có thể trong phòng: ống sắt, ống chân bàn, ống chân ghế, nẹp khe cửa v..v. Đồng thời chúng tôi cũng sắm một cái cặp và để trong đó một đống tiền mệnh giá 5$, 10$, 20$, cộng với tiền Rúp Nga mệnh giá nhỏ, trông thì rất nhiều nhưng giá trị không bao nhiêu, vì chúng tôi hiểu rằng một khi cướp đã vào nhà, không lấy được tiền thì chúng sẽ lấy mạng sống!

Không ngoài dự đoán, một buổi tối nọ vừa mở cửa sau tiếng gõ tôi đã ăn ngay một đạp bay vào tận giữa phòng, một họng súng sáng loáng dí thẳng vào đầu và một giọng rất đanh vang lên: “Tiền”. Tôi chỉ vào cặp táp và nói tiền trong đó. Chúng giở ra coi rất nhanh và gập lại rồi lập tức rút đi ra khỏi phòng. Thế là thoát.  Sau lần này tôi hiểu rằng không thể tiếp tục công việc đầy rủi ro này nữa. Chúng tôi quyết định thuê một căn hộ và ra sống ở đó.

Lúc này là đầu hè 1993. Vì đang nghỉ hè nên thời gian rảnh khá nhiều, bạn tôi thì thuê phim chưởng về xem ngày lẫn đêm. Trong căn hộ lúc nào cũng ầm ầm tiếng đao búa với trả thù, hết phim nọ rồi đến tập kia, không ngừng không nghỉ. Tôi thì tụ tập bạn bè, bia bọt nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng. Chưa hết nửa mùa hè mà chúng tôi đã xài gần 10.000 USD…

Tiếp Cận Phúc Âm

Chiều nọ, tôi nghe người ta đồn là có buổi thuyết pháp của người Mỹ hay lắm  Chúng tôi bàn với nhau: “Thôi nhậu hoài cũng chán, đi xem thử mấy tay rỗi hơi này nói cái gì.” Khi tôi đến nơi thì mới biết đó là buổi ca nhạc truyền giảng của mấy Việt kiều ở Mỹ. Họ qua đây để nói chuyện với bà con đang sinh sống ở Nga xô.

Tôi và vài bạn vô ngồi nghe, nhưng thực tình chẳng nhớ và cũng chẳng hiểu cái gì cả. Tôi chỉ lờ mờ nghe là họ nói luyên thuyên điều gì đó về ông Giê-xu. Cuối buổi, trước khi ra về họ phát cho mỗi người vài cái truyền đơn. Tôi nói với các bạn cứ lấy cho bằng hết, rồi ra kia vứt vô sọt rác. Tôi cho rằng những người này đang dùng tôn giáo, thu phục đám đông để mưu đồ chuyện gì đó bất chính.

Mùa hè kết thúc, chúng tôi phải tạm ngưng cuộc ăn chơi để trở lại trường học. Nhưng tôi không hiểu tại sao lúc này tôi không còn tha thiết với cuộc sống. Bàn tay vô hình nào đó đã lấy đi tất cả năng lượng sống trong tôi một cách đầy bí ẩn. Mọi thứ trên đời dường như vô nghĩa. Tôi không thiếu tiền, không thiếu chỗ ăn, chỗ ở, chỗ học nhưng tôi đang thiếu trầm trọng niềm vui trong tấm lòng. Từ sâu thẳm bên trong lòng tôi đang tìm kiếm một lí do cho sự tồn tại của mình trong cõi đời này.

Mỗi buổi chiều tan học về phòng, tôi hay lặng người nhìn ra cửa sổ, trầm ngâm. Tôi không nói ra, nhưng hay tự hỏi mình thực sự là ai. Nếu 60 năm cuộc đời này chỉ để kiếm tiền, ăn chơi, rồi chết mất thì đúng là đời không lối thoát thật. Có gì đó khác hơn không? Mỗi lần như vậy thì nỗi chán chường, tuyệt vọng lại nhân lên.

Một tối nọ, khi đang ngồi học bài cùng các bạn Nga, tôi buột miệng hỏi anh Shasa: “Ê, mày có tin là có ông Trời không?”

Anh ấy nhìn tôi và nói: “Có chứ sao không.” Giọng nói của anh toát lên sự tin quyết và hết sức nghiêm túc.

Tôi cười và nhìn anh như nhìn một người mê muội. Tôi hỏi: “Lý do nào mày tin như vậy? Sự thuyết phục nào cho sự tồn tại của Ngài nếu mắt không thấy, tai không nghe?”

Anh cố gắng giải thích cho tôi, như giải thích cho một kẻ vô thần đầy lý trí. Anh nói rằng có vô số thứ trên đời này mắt thường không thấy nhưng nó vẫn có. Chúng ta chỉ biết đến chúng nhờ máy móc hoặc những tác động thấy được. Ví dụ như nhờ lá cây rung rinh khiến chúng ta biết có không khí. Nhờ ti-vi phát ra hình ảnh khiến chúng ta biết có sóng điện từ. Còn Chúa Trời là Thần Linh vô hình, con người chỉ phát hiện ra sự hiện hữu của Ngài nhờ lòng tin…

Tôi cũng thấy sáng ra nhiều điều sau cuộc trò chuyện với anh bạn Shasa. Anh tặng tôi một quyển Kinh Thánh Tân Ước bằng tiếng Nga và khuyên tôi đọc những câu chuyện trong đó nói về Chúa Giê-xu Christ là Đấng có thể giúp con người nhận biết ông Trời. Rồi anh mời tôi chiều thứ năm hàng tuần đến với nhóm sinh viên cùng tìm hiểu Chúa Giê-xu và Chúa Trời.

Kể ra, phải công nhận sự kiên nhẫn của anh Shasa này là có một không hai. Không biết bao nhiêu lần tôi hứa là sẽ đi nhóm với anh, anh đến chờ, đến giờ thì tôi tìm cách từ chối, nói bận việc này kia không đi. Nhưng anh chàng này không nản. Lần sau anh cứ đến mời tiếp và chờ tôi, cuối cùng sự dối trá phải đầu hàng sự thành thật.

(Còn tiếp)

Trương Quý

Bài vở cộng tác và góp ý xin gởi về tintuc@hoithanh.com

Từ Vô Thần Đến Đầu Phục – Phần 1: Chúa dẫn dắt tương lai

Từ Vô Thần Đến Đầu Phục – Phần 3: Đời sống được biến đổi

Từ Vô Thần Đến Đầu Phục – Phần 4 và hết: Dâng trọn cuộc đời cho Chúa

 

Bình Luận: