Sự Cứu Rỗi Qua Thập Tự Giá – Phần 6: Sự Khiêm Nhường Của Thập Tự Giá

155

Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết

 – Thậm chí chết trên cây thập tự!”

PHI-LÍP 2:8

Địa vị ban đầu của Chúa Giê-su Christ là ngay đỉnh của đường cong pa-ra-pôn. Ngài vốn có bản thể của Đức Chúa Trời và hưởng những vinh quang của thần tánh Ngài, Ngài đã ở địa vị cao như Ngài có thể. Rồi Ngài hạ mình xuống, hướng xuống nơi con loài người. Ngài đã buông vinh quang của thần tánh Ngài, từ bỏ chính mình, mặc lấy thân phận của một tôi tớ, chịu tạo dựng trong hình hài con người, và khiêm nhường nằm trong máng cỏ.

SỰ HÈN MỌN CỦA MÁNG CỎ

Đường cong đi xuống của chiếc parabol tượng trưng hình ảnh Con Đức Chúa Trời từ thiên đàng xuống thế gian. Từ muôn đời về trước, Ngài vẫn luôn vui thích với đặc quyền về thần tánh của Ngài. Tuy nhiên Ngài đã chịu hạ mình để trở nên một con người. Ngài đã không dùng sự bình đẳng với Đức Chúa Trời để tránh né việc trở nên người phàm, nhưng làm điều ngược lại.

Chúa Giê-su Christ đã là một con người về mọi phương diện. Ngài đã được cấu tạo và dựng nên như một người bình thường. Bên dưới lớp da của Ngài là các xương và các bộ phận, cũng có máu bơm qua các mạch máu. Nếu bạn đã ở trong cái hang đá nơi Chúa Giê-su được sinh ra, bạn đã có thể đặt bàn tay mình trên thân thể Chúa hài đồng Giê-su và cảm nhận ngực Ngài phồng lên xẹp xuống đều đều theo nhịp thở trong không khí ban đêm tại Bết-lê-hem. Ma-ri và Giô-sép đã phải cho Ngài ăn và ợ, thậm chí thay tã cho Ngài. Trong vòng tay của họ, Ngài là một hài nhi đang sống, thở và ngọ nguậy.

Tất cả những điều đó là cần thiết để Chúa Giê-su trở thành Cứu Chúa của thế giới. Ngài đã phải trở thành một người như chúng ta để cứu chúng ta. Nhà cải chánh Zacharias Ursinus từng viết rằng: “Vì con người phạm tội, nên con người cần phải trả nợ tội lỗi.”1 Hay theo lời của Augustine, một nhà thần học có thể gọi là vĩ đại nhất của hội thánh sơ khai, “Chính bản chất được nhận lấy là bản chất được bày tỏ ra.”

Sự hạ mình của Chúa Giê-su Christ là điều xưa nay chưa từng thấy bao giờ. Đó là một điều trái ngược hoàn toàn với những giá trị của thế gian này – một đường lối khác với luân lý thế gian. Câu Kinh Thánh: “Ngài tự hạ mình xuống,” biểu lộ sự tự nguyện hạ mình. Cũng như việc tự từ bỏ chính mình (Phi-líp 2:7), Ngài cũng tự hạ mình xuống. Sự tự hạ mình của Chúa Giê-su Christ là một hành động sẵn lòng hạ cố và tình nguyện hy sinh bản thân.

Chúng ta dễ dàng quên tấm gương khiêm nhường của Đấng Christ cấp tiến thế nào. Các triết gia cổ đại coi thường sự hạ mình. Họ không cho rằng đó là một phẩm cách, nhưng cho đó là một thói xấu. Họ khen ngợi sự kiêu ngạo, và chê sự khiêm nhường là một biểu hiện của sự yếu đuối và hèn nhát.  Đối với những người ngoại đạo sống vào thời Đấng Christ thì sự hạ mình là khuynh hướng yếu đuối của một kẻ hèn nhát. Vậy nên Chúa Giê-su đã làm đảo ngược các giá trị của văn hóa cổ đại và cung cấp cho loài người một lối sống hoàn toàn khác: lối sống hạ mình.

HẠ MÌNH ĐẾN CHẾT

Nếu chúng ta lật mở các trang sách Phúc Âm, chúng ta có thể nhận ra nhiều hình ảnh khiêm nhường của Chúa Giê-su Christ. Tuy nhiên hình ảnh rõ nét nhất về sự hạ mình của Đấng Christ mà Phao-lô tâm đắc khi ông tô lại hình parabol về sự cứu chuộc đến chỗ đường cong vòng xuống là hình ảnh: Ngài “vâng phục cho đến chết.”

Tại đây, Phao-lô đã trả lời một thắc mắc canh cánh về khả năng hóa thân làm người của Chúa Giê-su trong lời một bài hát nổi tiếng năm 1995 của Joan Osborne. Osborne đã ngâm nga rằng: “Nếu Đức Chúa Trời là một người trong loài người chúng ta thì sao? Một người giống như chúng ta. Cũng từ bùn đất như chúng ta. Cũng là một người lạ trên xe buýt, đang trên đường về nhà, một mình quay về thiên đàng.”

Nếu Đức Chúa Trời là một người trong loài người chúng ta thì sao? Ngài sẽ cảm thấy như thế nào khi dự phần vào sự tồn tại tẻ nhạt và vô vị của con người? Thực ra, không cần phải suy đoán. Không cần đặt ra những cái “nếu” về điều ấy: vì Đức Chúa Trời đã thực sự trở thành một người như chúng ta. Chúng ta có thể đọc về tất cả những điều này trong các tài liệu lịch sử rõ ràng nhất đã được xác chứng từ thời cổ đại: các sách Phúc Âm trong Tân Ước. Chúa Giê-su cũng đã không cố gắng trở về thiên đàng một mình. Trên mọi bước đường của Ngài, Ngài luôn được thêm sức bởi Đức Thánh Linh và được giúp đỡ nhờ mối thông công thân mật với Đức Chúa Cha.

Tuy nhiên, từ cái nhìn Kinh Thánh, ta thấy một vấn đề trầm trọng hơn trong tác phẩm của Osborne là Chúa Giê-su mà bài hát này trình bày đã không đủ khiêm nhường. Chúa Giê-su trong tác phẩm của Osborne là một nhân vật đáng thương. Chúng ta thấy Ngài một mình trên xe buýt, không bạn bè và tuyệt vọng trong một thế giới sa đọa. Người đàn ông u sầu ấy dường như bị Đức Chúa Trời bỏ rơi, không chắc chắn về số phận đời đời của mình, và bị bỏ mặc để tự thực hiện sự cứu rỗi mình. Tuy nhiên, sự nhục nhã mà Chúa Giê-su phải chịu khi Ngài thực sự hóa thân làm người còn tệ hơn như vậy! Ngài đã phải hạ mình xuống thấp hơn nhiều so với việc chịu cô đơn trên chuyến xe buýt đang chạy trên đường phố. Sự vâng phục của Đấng Christ là sự vâng phục hoàn toàn cho đến chết.

Câu khẳng định trên không phải chủ yếu nói đến khoảng thời gian Đấng Christ chịu vâng lời. Mặc dù thật sự Chúa Giê-su đã vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời suốt cuộc đời Ngài, và Ngài đã vâng phục Cha Ngài đến tận giây phút Ngài chịu chết. Nhưng sự “vâng phục cho đến chết” ở đây chủ yếu bày tỏ mức độ vâng phục của Đấng Christ. Việc chết trên thập tự giá là một sự vâng phục đạt đến cấp độ thứ n, đến mức độ tột cùng của sự chết.

Sự vâng phục tuyệt đối này đã thể hiện cả thần tánh và nhân tánh của Chúa Giê-su Christ. Một mặt, việc phó dâng thân thể mình đến chết bày tỏ thần tánh của Ngài. Loài người tầm thường không thể vâng phục đến nỗi nhận cái chết. Điều này là tất yếu vì chúng ta chỉ là con người hay chết. Dù cho chúng ta có sẵn lòng đầu phục đến chết hay không thì tất cả chúng ta đều phải chết. Chỉ có Chúa Con, là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật mới có thể phó chính mình Ngài cho đến chết trong hành động vâng phục tự nguyện như thế.

Sự vâng phục của Đấng Christ cho đến chết cũng đồng thời bày tỏ nhân tánh của Ngài. Chỗ khác trong Thánh Kinh có nói rằng “Khi còn sống trong thân xác, Đấng Christ đã lớn tiếng dâng những lời cầu nguyện và nài xin đầy nước mắt lên Đấng có quyền cứu mình khỏi chết; và bởi lòng thành kính, Ngài được nhậm lời. Mặc dù là Con, Ngài cũng đã học tập vâng lời qua những khổ đau mình đã chịu” (Hê-bơ-rơ 5:7-8). Những câu Kinh Thánh này trao cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua hiếm hoi về đời sống cảm xúc của Chúa Giê-su Christ, Ngài thậm chí đã kêu khóc lớn tiếng với Cha Ngài trên thiên đàng để xin được cứu khỏi cái chết. Chúa Giê-su Christ đã học tập sự vâng lời qua việc chịu khổ.

Chúa Giê-su Christ đã có thể từ chối con đường thập tự giá. Một khi Ngài đã có cơ hội quan sát những điều xung quanh, chứng kiến mọi thứ và chịu đau đớn trên da thịt mình, Ngài đã có thể chọn đổi sự khiêm nhường lấy vinh quang trở lại. Thực ra đó chính là sự cám dỗ mà Sa-tan mang đến cho Chúa Giê-su: “Ma quỷ lại đem Ngài lên đỉnh núi cao, chỉ cho Ngài thấy tất cả các vương quốc trên thế gian với sự huy hoàng của chúng, và nói: “Nếu ngươi sấp mình thờ lạy ta, ta sẽ cho ngươi tất cả những thứ nầy” (Ma-thi-ơ 4:8-9). Sa-tan gợi ý trao cho Chúa Giê-su một con đường đến vinh quang mà không phải qua thập giá.

Chúa Giê-su đã từ chối con đường dễ dàng đó. Ngài từ chối nó bởi vì nếu không có sự chuộc tội thì sẽ không thể có sự cứu rỗi khỏi tội. Sẽ không có sự cứu chuộc nếu không có sự đóng đinh. Vì thế Chúa Giê-su Christ đã chấp nhận hạ mình cứu chuộc nhân loại. Ngài đã bằng lòng vâng phục đến chết.

THẬM CHÍ CHẾT TRÊN CÂY THẬP TỰ

Còn hơn như thế. Nhiều thế kỷ dài đã trôi qua mà chúng ta vẫn còn nghe giọng nói đầy kinh ngạc của Phao-lô: “Thậm chí chết trên cây thập tự!” Chúa Giê-su đã chấp nhận hạ mình không những trong máng cỏ, mà còn trên thập tự giá.

John Chrysostom (347-407) nằm trong số những diễn giả nổi tiếng của hội thánh sơ khai. Chức vụ giảng đạo của ông tại Constantinople thành công đến nỗi người ta gọi ông là “Chiếc lưỡi vàng” (nghĩa của chữ “Chrysostom” trong tiếng Hy Lạp). Nhà thuyết giảng vĩ đại này hiếm khi nào thiếu từ ngữ để diễn đạt, vậy mà khi gặp cụm từ trong Phi-líp 2, ông đã phải nói rằng “Tôi không có từ nào để nói.”

Từ ngữ thực sự không thể diễn tả hết được. Tuy nhiên chúng ta cần biết những gì Chúa Giê-su đã phải chịu trên thập tự vì chúng ta. Tiến sĩ C. Truman Davis miêu tả những ảnh hưởng của thập tự giá như sau:

Quân lính đặt thập giá trên mặt đất và nhanh chóng ném người đàn ông kiệt sức ấy xuống, lưng áp vào thanh gỗ. Tên lính cảm nhận sự kiệt sức trước cổ tay. Anh ta đóng một cái đinh bằng sắt rèn vuông và nặng xuyên qua cổ tay và lún vào thanh gỗ. Rồi anh ta nhanh chóng chuyển qua cổ tay bên kia và lập lại động tác tương tự, cẩn thận để không kéo cánh tay quá căng, nhưng để gập và cho phép cử động một chút. Sau đó thập giá được kéo lên vào đúng vị trí của nó.

Quân lính đặt bàn chân trái nạn nhân đè lên bên trên bàn chân phải, và kéo cả hai chân ra, cho ngón chân chĩa xuống, chúng đóng một cây đinh xuyên qua lòng hai lòng bàn chân và để đầu gối thả lỏng. Bây giờ đã đóng đinh nạn nhân xong. Khi sức nặng từ từ kéo thân thể nạn nhân chùng xuống, sự đau đớn tột cùng bắt đầu trong các ngón tay, lên đến hai cánh tay và bùng nổ trong não bộ – những cây đinh trên cổ tay tạo ra áp lực lên các dây thần kinh trung ương. Khi nạn nhân cố kéo thân mình lên trên để tránh sự đau đớn do bị kéo dãn này, thì anh ta lại đặt toàn bộ trọng lượng lên trên cây đinh đóng xuyên qua chân.  Một lần nữa anh ta cảm nhận nỗi đau thấu xương ở chỗ cây đinh đang xé những dây thần kinh giữa các xương bàn chân anh ta.

Khi hai cánh tay quá mỏi, các cơ bắp trở nên tê liệt, co rút lại làm cho nạn nhân không ngừng đau nhói. Những cơn dọp bẻ này khiến nạn nhân không còn khả năng lấy hơi để thở nữa. Không khí có thể đi vào phổi nhưng anh ta không thể thở ra được. Anh ta cố gắng đẩy thân mình lên chỉ để thở một hơi ngắn. Cuối cùng khí các-bô-níc cũng tạo thành trong phổi và trong máu, và những cơn dọp bẻ phần nào giảm bớt. Thỉnh thoảng anh ta có thể đẩy mình lên để thở và đưa oxy vào trong phổi.

Hàng giờ chịu đựng những cơn đau dài vô tận, những cơn dọp bẻ xé nát các khớp, những cơn ngạt thở và cơn đau khủng khiếp khi các mô bị xé toạc trên tấm lưng nát bấy vì xê dịch lên xuống trên cây gỗ xù xì. Rồi một sự đau đớn khác hình thành: sự đau đớn tột cùng ở ngực khi các màng ngoài tim từ từ đầy huyết thanh và bắt đầu ép vào tim.

Đến giờ mọi sự sắp kết thúc – tình trạng mất dịch mô đã đến mức độ nghiêm trọng – tim bị chèn khó có thể bơm thứ máu giờ đã đặc và nặng lên các mô – phổi bị tổn thương nặng phải cố lắm mới có thể thở gấp từng ngụm không khí nhỏ.

Anh ta có thể cảm nhận sự ớn lạnh của cái chết luồn qua các mô…

Tuy vậy, lời lẽ vẫn không thể diễn tả hết được. Kinh Thánh nói rằng Chúa Giê-su “vì niềm vui đặt trước mặt mình, vui chịu thập tự giá” (Hê-bơ-rơ 12:2). Thập tự giá mà Chúa Giê-su đã chịu không chỉ đơn thuần là một biểu tượng. Nó cũng không phải là một thứ đồ trang sức đeo tòn ten cho vui trên cổ hay một biểu tượng gắn trên tường. Nhưng nó là một sự tra tấn dã man.

Tới đây chúng ta đã chạm tới tận điểm cuối cùng của đường cong parabol cứu chuộc. Sự hạ mình của Chúa Giê-su trong máng cỏ chỉ là khởi đầu. Khi Con Đức Chúa Trời trở thành người, Ngài đã bắt đầu con đường parabol của sự vâng phục, con đường này đi từ chỗ máng cỏ đi xuống, xuống tận chỗ thập tự giá.

Đó là lý do tại sao Phao-lô kinh ngạc đến vậy! Mặc dù ông đã đi với Chúa nhiều năm, thường xuyên nghĩ về thập tự giá Đấng Chirst và chính mình cũng chịu nhiều gian khổ, nhưng ông vẫn hầu như không thể tin rằng Chúa Giê-su đã phải chịu sự nhục hình dường ấy. Vì trong thời đó, việc bị đóng đinh vào thập tự giá là một cái chết nhục nhã nhất.

Chúng ta đã đọc trong phần trước của sách này rằng thập tự giá bị người ngoại coi khinh. Trong tác phẩm Cộng hòa của Plato, Glaucon bắt đầu chứng minh cho Socrates việc một người công bình có thể chứng tỏ mình là công bình bằng cách nào. Để bày tỏ sự tốt lành của mình, người ấy phải chịu đựng mọi sự sỉ nhục và cam chịu các loại khổ ải. Glaucon kết luận như thế này sau khi miêu tả những bất công mà người ấy phải chịu: “Trong những hoàn cảnh ấy, người công bình sẽ bị đánh bằng roi, bị tra tấn, bị xích, bị móc mắt; và cuối cùng, sau khi đã chịu mọi sự đau đớn, người ấy phải bị đóng đinh …”Việc chịu đóng đinh là bằng chứng cuối cùng cho thấy người này là trọn vẹn, bởi vì nó là cái chết kinh khủng nhất mà người ta từng thấy.

Người La Mã lan truyền rộng rãi trong xã hội họ quan niệm cho rằng hình phạt đóng đinh là một sự sỉ nhục tồi tệ nhất, trong khi hình phạt chặt đầu được xem là nhẹ hơn. Thập tự giá dành cho những người bị coi khinh trong xã hội như: nô lệ và tội phạm hung tợn, kẻ bất lương và kẻ phản bội. Có lẽ Phao-lô nói rõ trong Phi-líp chương hai rằng Chúa Giê-su đã trở nên một người tôi tớ để chỉ ra rằng trên thực tế Ngài có đủ điều kiện cho thập tự giá.

Nếu đóng đinh là đáng khinh với người ngoại, thì nó là một sự rủa sả đối với người Do Thái. Như chúng ta đã đọc, theo Luật Môi-se, bị treo trên cây gỗ là bị Đức Chúa Trời nguyền rủa và bị xã hội xa lánh (Phục truyền 21:22-23). Không có cách gì để cứu chuộc một người đàn ông bị đóng đinh. Vì thế những gì Chúa Giê-su đã chịu vượt trên cả nỗi đau đớn do bị đóng đinh và do sự lăng mạ của những kẻ ngoại đạo; Ngài đã phải chịu cả sự nguyền rủa của Đức Chúa Trời trên tội lỗi nhân loại.

Khi hiểu được thực trạng tôn giáo và văn hóa thời ấy, có người sẽ thắc mắc liệu có khi nào thập tự giá cũng là một chướng ngại cho niềm tin của Phao-lô vào phúc âm. Vừa là người La Mã và người Do Thái, theo bản năng, chắc hẳn ông đã sợ phải tôn trọng một người chịu cái chết trên thập tự giá. Điều này giúp giải thích lý do ông chú ý từng chi tiết về ý nghĩa của thập tự giá trong bài giảng và bài viết của mình. Nó cũng giải thích tại sao ông lại kinh ngạc tột độ về việc Con Đức Chúa Trời phải chết trên thập tự giá. Nếu cái chết trên cây gỗ là một điều bị rủa sả thì làm thế nào Chúa Vinh Hiển lại có thể chết cách ấy? Đấng Mê-si bị đóng đinh ư!? Cụm từ này chắc chắc đã là một phép nghịch hợp – một cụm từ bất hợp lý – đối với Phao-lô trước khi tin Chúa. Sau đó, khi ông viết rằng Đấng Christ bị đóng đinh là “sự người Giu-đa lấy làm gương xấu” (1Cô-rinh-tô 1:23) là ông đang nói đến sự bối rối của chính ông trước đây về nghịch lý thập tự.

Tuy nhiên, Phao-lô đã không gạt Cựu Ước qua một bên, vì ông biết rằng bất cứ điều gì Kinh Thánh nói đều đúng. Ông cũng không bỏ qua những sự thật lịch sử về cuộc đời Chúa Giê-su, vì ông từng tận mắt chứng kiến Đấng Christ phục sinh. Thay vào đó, vị sứ đồ vật lộn với các bản văn cho tới khi hiểu được điều mà những sự kiện lịch sự đó muốn nói đến. Điều mà ông khám phá ra đã được ghi lại trong Thánh Kinh: “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp khi Ngài chịu rủa sả thế cho chúng ta – vì có lời chép: ‘Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ’” (Ga-la-ti 3:13).

SỰ HẠ MÌNH CỦA CƠ ĐỐC NHÂN

Chúa Giê-su Christ đã tự hạ mình và vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. Ngài đã gánh sự rủa sả của thập tự giá vì sự cứu chuộc chúng ta, Ngài chịu sự đau đớn và khinh điều sỉ nhục của thập tự (xem Hê-bơ-rơ 12:2).

Bất cứ ai chưa đến với Đấng Christ để xin sự tha thứ thì vẫn còn ở dưới sự rủa sả của thậo tự mà Ngài đã gánh. Nếu chúng ta không ăn năn sự chống nghịch Đức Chúa Trời thì sự rủa sả của Chúa như một bản án tử vẫn còn treo lơ lửng trên chúng ta, và chúng ta có nghĩa vụ phải chịu sự rủa sả cho chính mình. Nếu Đức Chúa Trời đã không miễn thứ cho chính Con mình khỏi sự rủa sả của Ngài đối với tội lỗi (xem Rô-ma 8:32), thì làm sao Ngài có thể miễn cho chúng ta khỏi sự rủa sả ấy? Chỉ chính nhờ thập tự giá của Đấng Christ mà chúng ta có thể thoát khỏi sự rủa sả của tội lỗi mà chúng ta đáng phải chịu.

Nếu chúng ta đã đem tội của mình đến nơi thập tự giá của Đấng Christ rồi thì sao? Phi-líp 2:8 chủ yếu nói về ý nghĩa của thập tự đối với Đấng Chirst, không phải đối với chúng ta. Câu Kinh Thánh đó nói về sự đau đớn và nhục nhã mà Chúa Giê-su đã chịu trên thập tự như một hành động hạ mình. Đó là đỉnh điểm sự hạ mình mà Chúa Giê-su Christ sẵn lòng chịu để cứu chuộc chúng ta.

Vậy một khi chúng ta thấy thái độ của Đấng Christ đối với thập giá, sự hạ mình tột độ chịu đựng sự nhục nhã ấy, thì chúng ta cũng có thể hiểu chúng ta nên có thái độ như Ngài. Thập tự mang chúng ta đến với lời khuyên thiết thực này:

Hãy có đồng một tâm trí như Đấng Christ Giê-su đã có. Đừng làm điều gì vì lòng ích kỷ, hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, xem người khác tôn trọng hơn mình. Mỗi người trong anh em đừng chỉ quan tâm đến lợi ích riêng mình, nhưng phải quan tâm đến lợi ích của người khác nữa. (Phi-líp 2:5, 3-4)

Rất ít người trong chúng ta gặp khó khăn trong việc nhớ quan tâm đến chính mình. Thực sự, chúng ta hiếm khi nhìn xa hơn lợi ích riêng của chúng ta. Chúng ta thường làm trái ngược với điều Kinh Thánh dạy và xem bản thân mình là quan trọng hơn người khác. Nhưng Phao-lô dạy chúng ta nên theo gương của Đấng Christ về sự hạ mình và ưu tiên người khác hơn chúng ta.

Khi lời khuyên trên có tác dụng với chúng ta, nó sẽ xoay chuyển những bản năng và sự ưu tiên của chúng ta. Khi đến với thập tự giá, chúng ta sẽ thấy mình còn phải hạ mình hơn nhiều. Vẫn còn quá nhiều sự kiêu ngạo trong sự khiêm nhường của chúng ta, thậm chí những hành vi thương xót của chúng ta cũng để phục vụ chính mình. Chúa đang kêu gọi chúng ta thay vào đó hãy có sự hạ mình như Chúa Giê-su đã có trên cây thập tự, sự hạ mình chịu khổ, hy sinh, và từ bỏ chính mình.

(Còn tiếp)

Nguồn: Vietnamese Missionary Institute

Bình Luận: