Ba Mẹ Ơi, Con Xin Hỏi – Phần 10: Chúa Giê-su có anh chị em không?

Bible Answers for Parents of Curious Kids
Tác giả: Ed Strauss

Có, Chúa Giê-su có bốn em trai và một vài em gái. Chúa Giê-su lớn lên tại làng Na-xa-rét, sau đó Ngài đi dạy dỗ khắp Y-sơ-ra-ên. Khi Chúa Giê-su trở về Na-xa-rét, người ta nói rằng, “Mẹ người có phải là Ma-ri, và anh em người là Gia-cơ, Giô-sép, Si-môn, và Giu-đe chăng? Chị em người đều ở giữa chúng ta chăng? Bởi đâu mà người được mọi điều ấy như vậy” (Ma-thi-ơ 13:55-56).

Câu này cho chúng ta biết tên bốn em trai của Chúa, nhưng tên các em gái thì chúng ta không biết. Có thể có từ hai người trở nên, vì Kinh Thánh nói “chị em người.” Nên chắc chắn là có hơn một người và hẳn là từ hai người trở lên.

Một số Cơ đốc nhân tin rằng Ma-ri không có con cái khác ngoài Chúa Giê-su. Họ nghĩ Giô-sép đã lập gia đình trước đấy và ông có một số con riêng với vợ trước. Sau khi vợ trước qua đời thì ông mới tái hôn. Vợ mới, Ma-ri, chỉ có một con là Chúa Giê-su. Có đúng vậy không? Chúng ta không biết. Nhưng chúng ta biết rằng Chúa Giê-su là “con trai đầu lòng” của Ma-ri (Ma-thi-ơ 1:25). Vậy nên nếu Ma-ri có nhiều con thì Chúa Giê-su là con trưởng nam, còn nếu Ma-ri chỉ có một con trai, thì Ngài là con út.

Chúa Giê-su gặp một số vấn đề với gia đình. Đầu tiên, anh em Ngài không tin rằng Đức Chúa Trời đã sai Ngài đến để cứu nhân loại. Có một lần, người xứ Giu-đê muốn giết Ngài. Nhưng các anh em Ngài lại nói xỏ xiên: “Hãy đi khỏi đây, và qua xứ Giu-đê … khi nào người ta muốn tỏ mình ra, thì không ai làm kín giấu việc gì” (Giăng 7:3-4).

Lần khác, Chúa Giê-su vào trong một nhà để ăn uống và có đám đông lớn bao quanh Ngài. Họ chen lấn đến nỗi Ngài không ăn được, và Ngài bắt đầu giảng dạy. Gia đình của Ngài nghe người ta nói “Ngài đã mất trí khôn” nên họ muốn ép, đưa Ngài trở về nhà ở Na-xa-rét.

Đám đông nói với Ngài, “Mẹ và anh em thầy ở ngoài kia, đương tìm thầy.” Chúa Giê-su đáp, “Ai là mẹ ta? Ai là anh em ta?” Sau đó Chúa phán, “Kìa là mẹ ta và anh em ta! Ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, ấy là anh em, chị em, và mẹ của ta vậy” (Mác 3:21 – 35).

Dĩ nhiên, Gia-cơ, Giô-sép, Si-môn, và Giu-đa vẫn là anh em của Chúa. Và Chúa Giê-su muốn nói rằng chính chúng ta cũng là anh chị em của Ngài. Con có cố gắng chen lấn đến gần Chúa Giê-su để nghe các câu chuyện của Ngài không? Con có làm theo những gì Chúa bảo con làm không? Thế thì con cũng là anh chị em với Chúa Giê-su.

*****

Theo con thì Chúa Giê-su là con trưởng nam hay con út trong gia đình của Ngài?

Con có gặp rắc rối với anh chị em không? Con giải quyết như thế nào?

Nguồn: Viện Đào Tạo Môn Đồ Việt Nam

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com

Bài thơ: Tâm sự Sa-lô-môn

Bấy giờ Chúa nổi giận với Sa-lômôn, vì lòng vua đã xây bỏ Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã hiện ra cho vua hai lần,  đã truyền cho vua chớ theo các thần khác, nhưng vua không vâng theo mạng lịnh Chúa đã truyền. (1Các Vua 11:9-10)

Trần thế hỡi, ai còn đang vất vả,
Trong cuộc đời, tìm giàu có phồn vinh.
Hãy lắng nghe tôi tâm sự đời mình,
Để nhận thức, cội nguồn chân lý sống.

Tôi sinh ra, trong vương triều sống động,
Hưởng đặc quyền vương tử lúc sơ sinh.
Giáo dục trong quốc tử giám thành kinh,
Được thừa kế ngôi vua cha Đa-vít.

Có đầy đủ bao giàu sang quyền lực,
Nhiều cung tần, nhiều mỹ nữ, quí phi  [1]
Vàng đầy kho, châu báu chẳng thiếu gì.
Tôi hưởng thụ mọi thú vui trần thế.

Chúa cho tôi nhiều khôn ngoan, trí tuệ [2]
Vượt hơn người đầy kiến thức nhân sinh.
Viết châm ngôn, bình luận mọi qui trình,
Về luân lý về, thiên nhiên, xã hội.

Tôi hãnh diện về khôn ngoan vượt trội,  [3]
Về hùng cường, về danh tiếng oai phong.
Trong thâm tâm vẫn khắc khoải trong lòng,
Bao câu hỏi không bao giờ giải đáp.

Tôi ý thức, nhưng lòng không kiểm soát,
Biết Chúa Trời ban giàu có khôn ngoan.
Nhưng đam mê những cung nữ ngoại bang,  [4]
Đành phản Chúa, đi tôn thờ thần tượng. [5]

Chúa cảnh báo, tôi không hề khoan nhượng,
Không hạ mình, không sám hối ăn năn.
Cho đến khi án lệnh Chúa phán tuyên,
Tôi mất hết, đến cuối đời vô vọng…

Xin tâm sự, bạn ơi nên thận trọng,
Về ơn lành, phước hạnh Chúa đã ban.
Đừng coi thường, ân điển Chúa vạn ngàn,
Đừng phản bội, đừng vong ân bội nghĩa.

Khi nhắm mắt, cơ hội không còn nữa,
Mãi buồn lòng hối tiếc cõi hư vô.
Bao quyền uy, danh vọng tựa cỏ khô,
Chỉ cứu rỗi trong Linh Ân trường cữu.

THANH HỮU
Tháng 11 năm 2020

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com


[1] 1 Các Vua 11: 3

[2] 1 Các Vua 10:23

[3] 1 Các Vua 3:11-12

[4] 1 Các Vua 11: 2

[5] 1 Các Vua 11: 9-10

Nắm Bột Cuối Cùng – 1 Các Vua 17

Kể từ cái ngày vua Giê-rô-bô-am dựng hai con bò vàng lên cho dân sự thờ lạy, hơn tám mươi năm qua trải qua tám đế chế chưa khi nào Y-sơ-ra-ên được bình yên. Giao tranh liên tiếp, hết kẻ thù từ các nước lân bang lại nội chiến, tạo phản.

Đã chiến tranh lại thêm hạn hán, đói nghèo, quân đội suy yếu, đất nước kiệt quệ.

Nhưng họ vẫn không nhận ra sự khốn khổ là bởi họ đã lìa bỏ Đức Giê-Hô-Va đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, thờ lạy hình tượng, chọc giận Chúa.

Ê-li được Chúa gọi để cáo trách họ, đem họ trở lại với Chúa. Chúa gọi thì Chúa nuôi, dù hoàn cảnh có thế nào!

Hạn hán thì Chúa giành riêng nước ở khe Kê-rít để ông uống, đói kém thì Chúa khiến một con chim quạ mang bánh và thịt đến nuôi ông.

Một ngày kia, nước trong khe hết…

Chúa phán với ông hãy đi đến nhà người đàn bà góa ở Sa-rép-ta và bà sẽ cung cấp thức ăn cho ông.

Lần vâng theo tiếng Chúa này khó khăn chẳng khác gì việc lần đầu phải tin rằng con quạ tham ăn lại có thể cung cấp thức ăn cho mình.

Nhưng, gạt bỏ mọi lý luận, hiểu biết, cùng sự khôn ngoan riêng, người đàn ông mạnh mẽ này vẫn quyết vâng lời Chúa hạ mình đến nhờ sự giúp đỡ của một người đàn bà mất chồng cùng khốn.

Ông gặp bà.

Ông xin bà nước uống, thứ nước đang duy trì sự sống của bà và con trai bà trong những ngày hạn hán, khô cạn này, vậy mà bà không từ chối, bà đưa nước cho ông.

Không dừng lại ở đó, ông xin tiếp bà đồ ăn. Đến lúc này thì người góa phụ không thể cầm lòng được nữa, bà chua xót, nghẹn ngào rưng rưng nước mắt:

–  Tôi thề với ông, tôi chỉ còn một nắm bột, tôi lượm được hai khúc củi về để nấu nốt chỗ bột này, tôi và con trai tôi ăn xong rồi chúng tôi chết…..chồng tôi cũng đã chết, nhiều người hàng xóm quanh tôi cũng chết cả rồi, chẳng còn hi vọng gì trong cái mùa hạn hán này…

Ê-li vẫn không bỏ cuộc, ông yên ủi bà:

–  Đừng sợ, bà cứ về và làm bánh đi nhưng đưa cho tôi ăn trước, sau đó hãy làm cho bà và con trai bà ăn. Hãy cứ vâng lời Chúa trước, rồi bà sẽ thấy bột sẽ không hết trong vò và dầu sẽ không thiếu trong bình đâu, bất luận hoàn cảnh xung quanh đang diễn ra thể nào.

Bà làm theo điều ông nói.

Người đàn ông vâng lời Chúa hạ mình khiêm nhu, chịu lệ thuộc vào người khác cùng người đàn bà có tấm lòng hiến dâng đã làm nên sự mầu nhiệm.

Ê-li đã chứng minh được rằng ông không phải là gánh nặng của bà nhưng là phước hạnh cho bà. Rằng nếu ông không đến yêu cầu sự giúp đỡ của bà, và nếu bà không dâng nốt nắm bột còn lại lên Chúa thì hẳn bà đã chết rồi và hẳn những người xung quanh bà đâu có cơ hội được chứng kiến một phép lạ diệu kỳ đến vậy.

Bạn thân mến! Nắm bột của bạn là gì? Tài chính, tài năng, hay những ân tứ mà Chúa ban cho bạn…

Bạn đang sử dụng nó như thế nào? Giữ nó và sống cho riêng mình để thấy nó đang hết dần hết mòn hay dâng nó lên Chúa.

Không phải Chúa thiếu và cần nó đâu nhưng Ngài muốn ban phước cho bạn, Ngài muốn nó được trở nên vượt trội bội phần, để cuộc đời bạn sẽ như mưa tuyết nhuần gội, khiến đất nở hoa và kết nụ luôn luôn.

Nguyện xin Chúa ban cho bạn một năm tràn đầy dư dật, bột sẽ không hết trong vò và dầu sẽ không thiếu trong bình.

Debbie Thủy

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com

Biến Đổi Từ Trong Tâm Trí

“Hãy để Chúa đổi mới tâm linh và tâm trí anh chị em.”Ê-phê-sô 4:23 BDM

Bên cạnh quyết tâm hành động để được biến đổi, tâm trí chính là điều kế tiếp chúng ta cần thật sự quan tâm một cách nghiêm túc.

Đời sống biến đổi đòi hỏi một tâm trí được biến đổi. Và để điều đó xảy ra, chúng ta cần học biết Lẽ thật để bắt đầu suy nghĩ biến đổi.

Tâm trí chính là phần điều khiển mọi hành vi. Sách Rô-ma 8:5 nói rất rõ rằng: “Những kẻ sống theo xác thịt thì chú tâm về những điều của xác thịt , còn những người sống theo Thánh Linh thì chú tâm về những điều của Thánh Linh” (BDM)

Cách suy nghĩ của một người quyết định cách cảm nhận của họ, và cách cảm nhận quyết định cách hành động.  Muốn thay đổi cách hành động, chúng ta cần thay đổi cách cảm nhận. Và để thay đổi cách cảm nhận, thì cách suy nghĩ phải thay đổi.

Hành động là kết quả trực tiếp của suy nghĩ. Nếu chúng ta có tâm trí tiêu cực, chúng ta sẽ sống một đời sống tiêu cực. Ngược lại, nếu chúng ta đổi mới tâm trí theo Lời Chúa, chúng ta sẽ được thử nghiệm trong chính kinh nghiệm của mình những ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời dành cho đời sống chúng ta (Rô-ma 12:2)

Nan đề của nhiều người bắt nguồn từ chính những suy nghĩ trong tâm trí họ. Những suy nghĩ ấy sinh ra mọi vấn đề mà họ thường gặp phải trong đời sống. Cả những cuộc chiến chống lại cám dỗ và bản ngã xác thịt cũng đều bắt đầu từ trong tâm trí. Con người không thể ngăn cản được những suy nghĩ hay cảm xúc đến từ bên trong, và đôi khi thật khó để ngăn chặn những ý tưởng tiêu cực.

Sa-tan tặng không cho tất cả mọi người những ý tưởng sai trật. Tuy nhiên chúng ta có sự lựa chọn, chúng ta không buộc phải nhận lấy và giữ những ý tưởng đó. Thay vì như vậy, chúng ta cần học biết lối suy nghĩ được Thánh Linh chấp nhận và nhận biết kiểu suy nghĩ nào Ngài không đồng ý.

Thư 2 Cô-rinh-tô 10:4-5 cho thấy rõ rằng, chúng ta phải biết Lời Chúa đủ mới có thể so sánh được ý tưởng nào trong tâm trí của chúng ta đẹp ý Chúa. Những tư tưởng nào cố đặt mình lên trên Lời Chúa thì chúng ta phải phá đổ và bắt nó vâng phục Ngài. Điều đó sẽ giúp làm thay đổi cách chúng ta cảm nhận, rồi từ đó mới làm thay đổi cách chúng ta hành động. Hãy để Chúa đổi mới tâm linh và tâm trí của chúng ta (Ê-phê-sô 4:23).

Sự ăn năn là điều cần thiết trong tiến trình biến đổi suy nghĩ. Vì chỉ khi chúng ta ăn năn và quyết tâm từ bỏ những lối suy nghĩ cũ, lúc đó chúng ta mới thật tự do để tiếp nhận những suy nghĩ mới mà Thánh Linh đặt để trong chúng ta. Nói đơn giản hơn: “ăn năn” có nghĩa là “quay đầu” trong tâm trí – quay đầu khỏi những sự ghen ghét, tranh chiến, thất vọng, vô tín…để đến với yêu thương, tha thứ, hàn gắn và hy vọng…

Tâm trí là chiến trường, nên điều thiết yếu là chúng ta phải uốn nắn ý tưởng của mình sao cho phù hợp với ý muốn của Chúa. Đây là một tiến trình cần thời gian và sự kiên nhẫn học hỏi.

Đừng bao giờ bỏ cuộc, bởi vì bạn sẽ được thay đổi từng chút từng chút một. Hãy nhờ cậy Chúa để bắt đầu thay đổi suy nghĩ. Khi tâm trí được biến đổi, và bạn nhìn mọi sự theo cách nhìn của Chúa, bạn sẽ bắt đầu thấy được kế hoạch tốt lành của Ngài dành cho bạn và khao khát được bước đi trong những sự ấy.

Nguyện Đức Chúa Trời cảm động lòng chúng ta để vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài (Phi-líp 2:13).

Biên soạn: Hồng Ân

Nguồn: Pastorrick.com & joycemeyer.org

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com

Y-sơ-ra-ên Đã Thuộc Về Chúa Giê-xu, Đấng Chăn Chiên Của Họ

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, sách Ê-xê-chi-ên 34, nhà tiên tri đã nói về những người chăn chiên giả của Y-sơ-ra-ên trong thời kì của ông:” Khốn nạn cho kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên (…) các ngươi chẳng đem những con bị đuổi về, chẳng tìm những con bị lạc mất (…) Những chiên ta đi lạc trên mọnbbfgi núi và mọi đồi cao; những chiên ta tan tác trên cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.”

Sau đó Đức Giê-hô-va hứa chính Ngài sẽ tập hợp đàn lại và đưa họ trở về vùng đất của họ. Ngài sẽ làm thành việc ấy bằng cách lập nên người chăn chiên trên họ:

“Ta sẽ đem chúng nó ra khỏi giữa các dân; Ta sẽ nhóm chúng nó lại từ các nước, và đem chúng nó về trong đất riêng chúng nó. Ta sẽ chăn chúng nó trên các núi của Y-sơ-ra-ên (…) Ta sẽ lập trên chúng nó chỉ một kẻ chăn, người sẽ chăn chúng nó, tức là Đa-vít, tôi tớ ta. Ấy là người sẽ chăn chúng nó, người sẽ làm kẻ chăn chúng nó (…) Chúng nó sẽ chẳng làm mồi của các dân ngoại nữa.”

Nhiều thế kỷ sau đó, trong Kinh Thánh Tân Ước, sách Giăng 10, Chúa Giê-xu đã nhận chính Ngài là “Người chăn chiên hiền lành”. Chắc chắn rằng Ngài đang nhắc đến những điều mà tiên tri Ê-xê-chi-ên đã nói bởi vì Chúa Giê-xu cũng giải thích về Người chăn chiên hiền lành đối lập với kẻ chăn chiên gian ác. “Kẻ chăn thuê chẳng phải là người chăn, và chiên không phải thuộc về nó. Nếu thấy muôn sói đến thì nó bỏ chiên chạy trốn; muôn sói cướp lấy chiên và làm cho tản lạc.” Chúa Giê-xu và tiên tri Ê-xê-chi-ên cùng đề cập đến một vấn đề: Sự quản lý yếu kém, bầy chiên bị tản lạc và làm mồi cho thú hoang.

Cao trào của sự việc là: Có gì khác nhau giữa Chúa Giê-xu, Người Chăn Chiên Hiền Lành và những kẻ chăn chiên tồi? Sự khác nhau là ở chỗ sự sở hữu. Ê-xê-chi-ên đã nói rằng Đức Giê-hô-va gọi bầy chiên là “bầy của Ta”. Và bây giờ chính Chúa Giê-xu cũng đang nói: “ Ta là người chăn hiền lành, ta quen chiên ta.” Và về những kẻ chăn chiên tồi, Ngài nói: Kẻ chăn thuê chẳng phải là người chăn, và chiên không phải thuộc về nó… Vì nó là kẻ chăn thuê, chẳng lo lắng chi đến chiên.”

Cho nên Chúa Giê-xu chẳng những được lập thành người chăn chiên mới mà còn là chủ của cả bầy chiên.

Hiển nhiên là Ngài đang nói về dân Y-sơ-ra-ên trước, những người Do Thái, dân tộc của Ngài. Chúa Giê-xu, chính Ngài là chủ của những người Do Thái. Ngài cũng là người được chọn để đến một ngày, sẽ đem những người thuộc về Ngài trở về vùng đất của họ.

Chúng ta thật sự được phước trong thời điểm hiện tại khi được chứng kiến sự việc đã bắt đầu từ hằng trăm năm trước. Khi nói về chiên lạc bầy, chúng ta hay nghĩ đến việc bị tản lạc giữa Chúa Giê-xu và Hội Thánh của Ngài. Chúng ta đều biết hình ảnh đẹp của Đấng chăn chiên hiền lành là khi đem con chiên lạc trở về trên đôi vai của Ngài, điều đó là tốt, vì Chúa Giê-xu chính là Người chăn chiên hiền lành đó. Tuy nhiên chúng ta nên được nhắc nhở rằng Chúa đang trước hết nói về những người của Ngài, ấy người Do Thái, những người con của Y-sơ-ra-ên.

Mục sư Cornelis Kant – Giám đốc Điều hành Cơ đốc nhân vì Israel Quốc tế/ ngày 7 tháng 8, 2018.

Cơ Đốc Nhân Vì Israel Quốc Tế

Mùa Tạ Ơn! (Thanksgiving)

Hôm qua mây tím bàng bạc giăng lối, con bên nàng dạo bước dưới trời thu êm ả… Con tạ ơn Chúa!…

Hôm nay đông về ảm đạm cô liêu, con độc hành quạnh quẽ buồn tênh… Con tạ ơn Chúa!…

Hôm qua trời mưa lạnh lẽo, gió hiu hắt từng cơn gợn buồn… Con tạ ơn Chúa!…

Hôm nay trời xanh trong nắng đẹp, ấm áp vô cùng… Con tạ Chúa!…

Con tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh!…

Vì ý muốn Chúa là con sống trong tinh thần tạ ơn!…

Chúng ta cùng trở lại biến cố và ý nghĩa của Mùa tạ ơn trong tháng 11:

Những người sau này thường được gọi là Người hành hương (Pilgrims) đi trên một con thuyền tên là Mayflower từ Anh quốc mang theo 102 người đầu tiên di cư đến đất Mỹ, họ đặt chân đến thuộc địa Plymouth thuộc vùng Tân Anh (New England) khi đang mùa đông. Đói và lạnh, một nửa trong số họ không qua nổi mùa đông khắc nghiệt, 46 người đã chết, đến nỗi thuyền trưởng muốn quay trở về Anh quốc. Nhưng tất cả mọi người trên tàu đều muốn tiếp tục cuộc hành trình, cuối cùng Chúa đã cho họ đặt chân đến vùng đất tự do. Đến mùa xuân, họ may mắn gặp được những thổ dân da đỏ tốt bụng và cho họ ít lương thực. Người da đỏ dạy họ những cách sinh tồn ở vùng đất này như cách trồng hoa màu, săn bắt…

Nhưng những người trên tàu đã phải chiến đấu với thiên nhiên để sinh tồn. Trên vùng đất khai phá phải đương đầu với những cơn hạn hán, cơ cực, họ đã hiệp nhau cầu nguyện để Chúa ban phước cho mùa màng. Trong mùa thu hoạch đầu tiên năm 1621, để tỏ lòng biết ơn Chúa đã cho họ sống sót trên biển cả và nuôi họ trong vùng đất tự do. Những người di cư đã tổ chức Lễ tạ ơn Chúa trong ba ngày, họ mời những người da đỏ và cùng nhau ăn uống vui vẻ. Từ đó về sau, hằng năm con cháu của người Pilgrims luôn tổ chức Lễ Tạ Ơn để cảm ơn cho những gì tốt đẹp đã đến với cuộc sống. Bữa ăn tuy thanh bần đạm bạc gồm gà tây, khoai tây và bí ngô cùng với những người bản xứ da đỏ vui vẻ và thỏa lòng. Cho dù cuộc sống còn cơ cực nhưng sự nghèo nàn vẫn không ngăn cản lòng biết ơn Chúa của họ. Sau nầy, cứ đến thứ năm của tuần lễ thứ tư trong tháng 11 người Mỹ đều tổ chức Lễ tạ ơn trên phạm vi toàn quốc.

Vì vậy, chúng ta hãy để lòng trông cậy, tin yêu và tín thác, hãy luôn sống vui mừng trong Chúa, đừng lo phiền chi hết. Hãy tạ ơn Ngài, vì những ơn lành, phép lạ mà Chúa đã an bài trên đời sống chúng ta, trên gia đình chúng ta. Chúng ta tạ ơn Ngài, vì chúng ta ít đau khổ, tạ ơn Ngài giữa những khó khăn mà mình đang đối diện. Xin Chúa cho đôi mắt thuộc linh của ta được mở ra để thấy Ngài có đưa bàn tay ra dắt dìu chúng ta vượt qua bão tố phong ba trong cuộc đời. Đó là ý muốn của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, khi chúng ta sống với tinh thần tạ ơn, chúng ta sẽ làm vui lòng Chúa. Vì ý muốn Chúa là tâm hồn chúng ta luôn bình an, khi sống trong thế gian, thế giới bất an và đầy lo sợ nầy.

Vâng! Con tạ ơn Chúa – Con tạ ơn Chúa…

Hồ Galilê – 2020

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com

Bài Học Về Chai Dầu Cam Tùng Của Ma-ri

Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu để giải thích được cảm giác bị xúc phạm đến mức cùng cực của những người có mặt lúc đó khi chứng kiến cảnh Ma-ri đập bể chai dầu cam tùng của mình rồi đổ lên người Chúa Giê-xu.

Trước hết, đây là một người nữ “không tinh sạch”, lại cả gan đụng chạm một cách thân mật vào người được cho là một nhà tiên tri thánh khiết (Lu-ca 7:39). Có tiên tri nào mà lại không nhìn ra điều bất ổn rất cơ bản này? Ngay đến kẻ ngốc còn biết là chuyện này đã đi quá xa nữa kìa.

Tuy nhiên không phải chỉ có những nhà lãnh đạo tôn giáo ở đó mới tặc lưỡi hít hà – mà ngay cả các môn đồ cũng bối rối, nhưng là vì một lý do khác.

Cũng giống như việc nguyên một chai dầu thơm hiệu Chanel N°5 bị đem đi rửa chân cho Chúa Giê-xu, rồi đổ ra lênh láng trên sàn nhà … sau đó lại bị dội hết xuống cống vậy! Chúa Giê-xu có biết chai dầu đó bao nhiêu tiền không? Nó có thể giúp đỡ được bao nhiêu người? Những người ưu tú nhất của phe tôn giáo có thể đã kinh hoàng trước hành động gần gũi đầy tai tiếng của một người nữ tội lỗi, nhưng các môn đồ thì rõ ràng là tập trung vào vấn đề tài chính khi có quá nhiều người nghèo đói xung quanh (Ma-thi-ơ 26: 8-9, Mác 14: 4-5).

Họ nghĩ người nữ này đã lãng phí một lượng dầu thơm đắt tiền và đã gây ra một lỗi lầm nghiêm trọng – nhưng Chúa Giê-xu thì lại cho phép điều đó xảy ra mà không ngăn cản nàng. Họ phản đối (ít nhất là trong nội bộ) rằng nếu chai dầu đó có thể bán đi để giúp đỡ cho những người khó khăn thì sẽ tốt hơn nhiều so với việc đem nó đi rửa chân. Việc này là quá sức chịu đựng đối với Giu-đa, người mà sau đó đã thực hiện một phi vụ gian ác, đồng ý phản bội Chúa Giê-xu để đổi lấy 30 đồng bạc.

Việc xem lại câu chuyện này trong thời đại của chúng ta là cần thiết vì chúng ta có thể vô tình mắc lỗi tương tự như các môn đồ.

Sắp xếp những ưu tiên của chúng ta theo đúng thứ tự

Phải chăng cảm xúc mãnh liệt của chúng ta đã dần chuyển hướng vào những lý tưởng của Nước Trời thay vì vào chính Đức Vua?

Hãy thử đứng vào vị trí của các môn đồ trong một phút và suy nghĩ về sai lầm hiển nhiên của Ma-ri.

Đây là sự gian ác của em gái ngươi là Sô-đôm: Nó và các con gái nó kiêu ngạo, thức ăn thừa mứa, và lười biếng, nhưng lại không giúp đỡ kẻ nghèo nàn và thiếu thốn. Chúng trở nên tự cao, làm những việc ghê tởm trước mặt Ta nên Ta đã tiêu diệt chúng khi Ta thấy mọi điều đó.” (Ê-xê-chi-ên 16:49-50)

Tiếng kêu than của những người nghèo khổ, túng thiếu, bị áp bức, mồ côi và góa bụa luôn nằm ở vị trí rất cao trong danh sách ưu tiên của Đức Chúa Trời. Đứng đầu danh sách chắc chắn là Chúa quan tâm đến danh dự/sự vinh hiển của chính mình Ngài, sau đó là sự cứu rỗi đời đời cho những linh hồn hư mất và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài cũng nằm trong số đó. Nhưng chỉ cần đọc lướt qua Kinh Thánh sẽ cho bạn biết rằng tiếng kêu của những người nghèo khổ là vô cùng quan trọng đối với Chúa. Ngài không chỉ lắng nghe, nhìn thấy và quan tâm đến những người bị áp bức, mà Ngài còn tức giận khi chúng ta vô cảm với họ. Trên thực tế, Chúa bày tỏ rằng không phải chỉ có sự đồi bại của Sô-đôm đã làm cho Ngài phẫn nộ, mà còn vì họ không quan tâm đến người nghèo.

Đây là điều cơ bản. Hay nói đúng hơn là quá cơ bản, trên thực tế, bạn không cần phải là người theo Chúa Giê-xu thì mới biết điều đó là đúng đắn và cần làm. Đã là con người thì ai cũng hiểu được điều này. Bạn có thể thấy lý do tại sao các môn đồ đã có phản ứng như vậy. Nhưng ngay cả là như vậy đi nữa, thì ưu tiên hàng đầu của chúng ta, là tình yêu dành cho Chúa Giê-xu, Vua của chúng ta phải vượt trên tất cả những thứ khác.

Không chỉ có việc quan tâm đến người nghèo là đòi hỏi sự chú ý của chúng ta. Nguyên tắc của chai dầu cam tùng này cũng áp dụng cho tất cả những lý tưởng tốt đẹp khác. Chỉ cần suy nghĩ trong một phút về những điều khiến bạn mất ngủ, về việc bạn ký đơn thỉnh nguyện hoặc nói chuyện nghiêm túc với người khác. Tất cả những vấn đề này đều phải xếp sau tình yêu mà chúng ta dành cho Chúa Giê-xu, bất kể chúng quan trọng như thế nào. Không có gì quan trọng bằng Chúa Giê-xu.

Chúa Giê-xu phải là số một

Điều răn lớn hơn hết (được biết đến với tên gọi “Shema”) là phải yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức. Chúa bảo Y-sơ-ra-ên hãy viết các lời đó lên khung cửa nhà và đeo lên trán để họ không quên:

Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai. Anh em phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực mà kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời.” (Phục-truyền 6:4-5)

Tất cả những gì chúng ta cần, có lẽ là một bản dịch tốt cho từ cuối cùng trong tiếng Hê-bơ-rơ đó, vì nó bao gồm một khái niệm về sự sở hữu – chúng ta phải yêu Chúa bằng tất cả những gì chúng ta có. Đó là những gì Ma-ri đã làm. Nàng đã đập bể chai dầu cam tùng quý giá đó và đổ hết thứ dầu thơm đắc đỏ ra cho Ngài. Và theo Chúa Giê-xu thì đó là điều đúng đắn. Thậm chí quan trọng hơn cả việc cho người nghèo ăn. Nó không lãng phí.

Tất nhiên, chúng ta không nên chọn một trong hai, chúng ta có thể làm được cả hai! Trên thực tế, yêu thương người khác cũng là một cách để thể hiện tình yêu của chúng ta đối với Chúa, vì Ngài cũng yêu họ. Hai tình yêu này không nên tách rời. Nhưng Chúa Giê-xu phải được đặt lên hàng đầu.

Thưa Thầy, trong luật pháp, điều răn nào quan trọng nhất?

Đức Chúa Giê-xu đáp: “‘Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.’ Ấy là điều răn thứ nhất và quan trọng hơn hết. Còn điều răn thứ hai cũng giống như vậy: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.’ Tất cả luật pháp và lời tiên tri đều tùy thuộc vào hai điều nầy.” (Ma-thi-ơ 22:36-40)

Chúng ta phải yêu thương người lân cận như chính mình, nhưng đó chỉ là điều răn thứ hai theo sau điều răn lớn nhất là phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực mà yêu mến Chúa.

Khi chúng ta bị lôi kéo bởi một lý tưởng nào đó – bất kể nó cao quý đến đâu – thì chúng ta cũng rất dễ sa vào sự thờ hình tượng nếu Chúa Giê-xu không được đặt ở vị trí đầu tiên.

Nếu chúng ta đặt Chúa Giê-xu lên hàng đầu, mọi thứ khác sẽ rơi vào đúng vị trí của chúng vì những ưu tiên của Chúa sẽ ngấm vào đời sống của chúng ta khi chúng ta tập trung vào Ngài. Kế hoạch của Ngài trở thành kế hoạch của chúng ta. Nếu chúng ta thực sự yêu Chúa, chúng ta sẽ tự nhiên tuân theo mệnh lệnh của Ngài bằng cách thể hiện tình yêu với nhau.

Đừng đánh mất tình yêu ban đầu!

Ma-ri cho chúng ta một ví dụ khác khi nàng chọn ngồi dưới chân Chúa Giê-xu thay vì giúp chị mình tiếp khách. Sự hiếu khách dành cho Chúa Giê-xu và bạn bè của Ngài chắc chắn là một trong những công việc cao quý nhất, nhưng nó cần phải đứng ở vị trí thứ hai sau “điều quan trọng nhất” mà Ma-ri đã chọn (Lu-ca 10:42).

Như có ai đó đã từng nói với tôi rằng Sự Vui Mừng (JOY) là viết tắt của:

(J-Jesus first) Chúa Giê-xu trước nhất

(O-Others second) Tiếp theo là người khác

(Y-Yourself last) Cuối cùng là bản thân

Nhiều người có xu hướng đánh đồng việc phục vụ người khác với việc phục vụ Chúa, tuy nhiên đừng làm như thế! Chúa Giê-xu trước, sau đó mới tới người khác. Điều đó có nghĩa là ưu tiên hàng đầu của chúng ta, bông trái đầu tiên trong ngày của chúng ta, mối quan tâm chính của chúng ta, trọng tâm của đời sống chúng ta và tình yêu đầu tiên của chúng ta cần phải được dành cho Chúa Giê-xu.

Hãy đến tôn thờ Ngài

Tội lỗi của Ma-ri dầu có nhiều cũng đã được tha thứ hết và bà thể hiện sự cảm kích sâu sắc của mình một cách hào phóng. Khi chúng ta dành thời gian để suy ngẫm về tất cả những gì Chúa đã làm cho chúng ta, tình yêu của chúng ta dành cho Ngài cũng đến một cách tự nhiên. Tấm lòng của chúng ta trở nên hâm hẩm khi chúng ta quên, hoặc trở nên dửng dưng với lòng tốt của Chúa, chúng ta coi những sự ban cho của Ngài là điều hiển nhiên. Nhưng luôn có quá nhiều điều để chúng ta biết ơn Ngài! Nhìn chăm vào Chúa, vào lời hoàn hảo của Ngài và những kỳ quan vĩ đại của Ngài, sẽ thắp lên ngọn lửa tình yêu của chúng ta trở lại rực cháy như thuở ban đầu.

Ma-ri lúc đó có lẽ đã không biết rằng sự cố mang tên chai dầu cam tùng của nàng chính là xức dầu cho Chúa Giê-xu để chuẩn bị cho việc chôn cất Ngài – sự việc này trở thành một hành động mang tính tiên tri sâu sắc sẽ được nói đến trong suốt nhiều thế kỷ – nhưng thực chất đó là một hành động xuất phát từ tình yêu tha thiết đến mức không kiềm nén được đối cùng Chúa Giê-xu. Chúng ta bị cuốn vào dòng chảy trong chương trình tuyệt vời của Ngài, và cuối cùng được góp phần trong các kế hoạch đáng kinh ngạc của Ngài theo những cách không lường trước được. Các kế hoạch, tất nhiên, bao gồm cả những lý tưởng và vấn đề mà chúng ta có thể trở nên rất say mê. Chúa quan tâm đến chúng nhiều hơn bạn! Cho nên bạn không cần phải bận tâm quá nhiều vào chúng mà hãy cứ đặt Ngài lên hàng đầu.

Dầu cam tùng trong Kinh Thánh là biểu tượng của sức mạnh, sự đẹp đẽ và thánh khiết, và đó là cách mà người nữ này được nhớ đến, hơn bất kỳ tội lỗi nào mà nàng đã phạm phải. Câu chuyện này biện minh cho nàng và dạy dỗ chúng ta. Nàng hiểu rất rõ Chúa Giê-xu quý giá như thế nào – Ngài giá trị hơn nhiều so với tất cả các loại nước hoa đắt tiền trên thế giới.

Bài học về Ma-ri và chai dầu cam tùng của nàng là: Hãy sống và hành động làm sao để chứng minh được rằng Chúa Giê-xu là quan trọng với chúng ta hơn cả điều quan trọng nhất trên đất này.

Dịch: Eunice Tu

Nguồn: oneforisrael.org/bible-based-teaching-from-israel

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com

Hãy Đếm Những Ơn Phước Chúa Ban Mỗi Ngày, Người Biết Ơn Sẽ Được Thêm Ơn

Alexander Fleming, người được nhận giải thưởng Nobel về y học năm 1945 bởi tìm ra thuốc kháng sinh Penicilin.
Khi được gọi là nhà sáng chế thuốc kháng sinh Penicilin ông đã đính chính lại, tôi không phải là người sáng chế ra nó, tôi chỉ là người tìm ra nó.

Vua Salomon cũng nói chẳng có gì mới ở dưới mặt trời, người ta nghĩ cái này mới nhưng thật ra nó đã có rồi. Đức Chúa Trời đã tạo ra tất cả từ trước vô cùng. Con người đang được tận hưởng mọi thứ xung quanh mình như mưa, nắng, mặt trời, mặt trăng….là do Chúa ban, vậy hãy biết ơn Chúa.

Gióp một người đàn ông hiền lành, tin kính Chúa, có một gia đình hạnh phúc, vậy mà đại nạn lại đến trên nhà ông. Trong một ngày ông đã mất đi tất cả, nhà cửa, tài sản, con cái, không những thế người ông còn đầy ghẻ chốc, ung độc, nhưng ông lại nói Tôi lọt ra khỏi lòng mẹ trần truồng, tôi trở về cũng vậy thôi, ngợi khen Đức Giê-hô-va.
Ông nhận biết mình đâu có mang gì vào đời, tất cả những gì mình có đều đến từ Chúa. Chúa ban cho thì Chúa có quyền lấy đi.
Tấm lòng biết ơn của ông đẹp lòng Chúa, Ngài đã ban lại cho ông gấp đôi những gì ông đã mất.

Phao lô là một người tri thức, học cao, hiểu rộng, đứng trong hàng ngũ người Pha-ri-si, một nhóm học giả được tôn trọng trong xã hội Do Thái, nhưng ông coi mọi sự như là lỗ, chỉ sự nhận biết Chúa là quý hơn hết.

Mỗi khi có ai đó khen ông thì ông lại nói: Tôi làm được mọi sự là nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi. Tôi nay là người thể nào là bởi ơn của Chúa.

Tại sao ông không để người ta khen ngợi mình, tại sao ông không giữ lấy địa vị mà bao người đang muốn leo lên? Vì ông biết ngoài Chúa ra ông chẳng làm được điều chi cả.
Lòng biết ơn của ông đã giúp ông sống vui mừng ngay cả trong những ngày hoạn nạn.

Đa-vít đã đánh đông dẹp tây không những để bảo vệ đất nước mình, mà cũng để thâu góp tài sản, đất đai cho mình. Ông trở nên người rất giàu có, đến mức toàn dân dâng hiến xây đền thờ cho Chúa chỉ bằng 1/20 số tài sản ông dâng, vậy mà ông chẳng bắt ai phải ghi danh mình tại đó.

Ông nói: Tôi là ai là có sức dâng như vậy, vả mọi vật tôi dâng cho Chúa chẳng qua đã thuộc về Chúa rồi.

Tại sao lại vậy, có vô lý không khi ông không muốn người khác nhìn nhận những thành quả mình đã làm? Vì ông biết nếu không bởi Chúa, thì không biết hôm nay ông đã ra thể nào rồi, nên ông tiếp tục thốt lên: Tôi may được phần cơ nghiệp ở trong nơi tốt lành, phải tôi có được cơ nghiệp đẹp đẽ nhờ Chúa ban.

Họ là những người có lòng biết ơn!

Vậy, hãy đếm các ơn phước Chúa ban mỗi ngày, người biết ơn sẽ luôn được thêm ơn.

Happy Thanksgiving Day!!!

Debbie Thuy & Lê Hằng

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com

Thách Thức Của Big Bang – Phần 2: Tính phi logic của “Thiết kế Vĩ đại”

2/ Tính phi logic của “Thiết kế Vĩ đại”

Theo John Lennox:

Khi Hawking diễn giải và áp dụng khoa học vào những vấn đề cơ bản như sự hiện hữu của Chúa thì ông đã rơi vào lĩnh vực siêu hình. Nói “triết học đã chết” là tự đưa mình vào bẫy khi chính mình đang thảo luận triết học. Chẳng hạn, khi Hawking nói “Vì có một định luật như định luật hấp dẫn, vũ trụ có thể và sẽ tự tạo ra nó từ hư không”, thì rõ ràng là ông đã giả định rằng lực hấp dẫn hoặc định luật hấp dẫn đã tồn tại. Như thế thì đâu phải là “hư không”? Vậy vũ trụ không phải đã được tạo ra từ “hư không” như Hawking nói.

Tệ hơn nữa, câu nói “vũ trụ có thể và sẽ tự tạo ra nó từ hư không” là một mệnh đề tự mâu thuẫn về logic ngữ nghĩa. Thật vậy, khi nói “X tạo ra Y” thì có nghĩa là X ĐÃ TỒN TẠI từ trước để từ đó mới dẫn tới sự tồn tại của Y. Nếu nói “X tạo ra X” thì có nghĩa là thừa nhận sự tồn tại của X để suy ra sự tồn tại của X. Tóm lại, lập luận của Hawking là: THỪA NHẬN SỰ TỒN TẠI CỦA VŨ TRỤ ĐỂ SUY RA SỰ TỒN TẠI CỦA VŨ TRỤ!

Không thể tưởng tượng nổi một lập luận logic luẩn quẩn như thế có thể được chấp nhận bởi những nhà khoa học nổi tiếng có uy tín cao. Không chỉ Hawking lập luận như vậy. Nhà hóa học Peter Atkins, cũng là một nhà khoa học vô thần nổi tiếng tại Đại học Oxford, có những quan điểm tương tự. Ông này cho rằng không-thời-gian tạo ra các đám mây bụi của nó trong quá trình tự lắp ráp nó. Atkins gọi quá trình này là nguyên lý “vũ trụ tự lắp ráp” (cosmic bootstrap). Nguyên lý này làm ta liên tưởng tới những hệ thống tự mâu thuẫn như trường hợp một người tự túm tóc mình để nhấc bổng mình lên.

Nhà triết học Keith Ward tại Đại học Oxford nhận xét: Nguyên lý “tự lắp ráp vũ trụ” là bất khả thi về mặt logic, vì không thể có một kết quả vật lý mà không có một thực thể vật lý đã tồn tại từ trước đó. Ward kết luận rằng tư tưởng “tự lắp ráp vũ trụ” chắc chắn thất bại.

John Lennox kết luận: “Sự vô nghĩa vẫn là vô nghĩa ngay cả khi nó được nói ra bởi những nhà khoa học nổi tiếng thế giới (nonsense remains nonsense even when talked by world-famous scientists).

Lennox nhắc nhở: “Isaac Newton, một bậc tiền bối từng ngồi trên chiếc ghế của Hawking tại Đại học Cambridge, là người khám phá ra Định luật Hấp dẫn, nhưng không bao giờ nói “Bây giờ tôi có lực hấp dẫn, tôi không cần Chúa”. Điều ông làm là viết cuốn “Nguyên lý Toán học của Triết học Tự nhiên” (Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica), cuốn sách nổi tiếng nhất trong lịch sử khoa học, thể hiện niềm hy vọng rằng nó sẽ “thuyết phục những người biết suy nghĩ” tin vào Chúa”.

Lennox nhấn mạnh: “Định luật hấp dẫn do Newton khám phá không tạo ra lực hấp dẫn. Thậm chí nó cũng không giải thích lực hấp dẫn, như Newton tự nhận thấy”.

Theo Lennox, tư tưởng của chủ nghĩa tự nhiên cho rằng những định luật toán học thông minh tự nó dẫn tới sự tồn tại của vũ trụ và sự sống là một câu chuyện hoàn toàn chỉ là khoa học viễn tưởng.

Và Lennox gợi ý: Nếu Hawking không dửng dưng với triết học như thế thì có thể một lúc nào đó ông đã tình cờ gặp một nhận định triết học thâm thúy do nhà triết học trứ danh LudwigWittgenstein nêu lên từ những năm 1920. Đó là cụm từ “sự lừa dối của chủ nghĩa hiện đại” (deception of modernism). Cụm từ này nói rằng chủ nghĩa hiện đại đã lừa dối thiên hạ khi tuyên truyền tư tưởng cho rằng các định luật tự nhiên có thể GIẢI THÍCH thế giới, trong khi thực tế chúng chỉ MÔ TẢ thế giới mà thôi.

Liệu giới khoa học chạy theo chủ nghĩa tự nhiên có hiểu được ý tứ thâm sâu trong ý kiến của Wittgenstein không?

Richard Feynman, một nhà vật lý đoạt Giải Nobel, đẩy vấn đề đi xa hơn khi cho rằng bản thân sự tồn tại của các quy luật vật lý ở khắp mọi nơi mà chúng ta có thể kiểm nghiệm được chính là một PHÉP LẠ, chẳng hạn như sự tồn tại của định luật hấp dẫn với nghịch đảo của bình phương khoảng cách là một phép lạ.

Đối với Albert Einstein, một trong những nhà tư tưởng khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại, thì chính cái sự thật rằng những định luật tự nhiên có thể được công thức hóa bằng toán học là điều thường xuyên làm cho ông kinh ngạc, đến mức ông cho rằng cái sự thật đó nằm ở phía bên kia tầm với của vật lý và mang tính “thần thánh cao cấp vượt trội hơn hẳn tinh thần của con người” (spirit vastly superior to that of man).

Chú ý rằng Hawking đã thất bại trong việc trả lời câu hỏi cốt lõi: Tại sao thế giới lại có cái gì đó chứ không phải là hư không? Ông nói rằng sự tồn tại của lực hấp dẫn (hoặc định luật hấp dẫn) có nghĩa là sự hình thành của vũ trụ là không thể tránh được. Nhưng làm thế nào mà lực hấp dẫn (hoặc định luật hấp dẫn) xuất hiện trước tất cả mọi thứ? Lực sáng tạo nào nằm đằng sau sự ra đời của nó? Ai đặt nó ở đấy với tất cả mọi tính chất của nó và khả năng mô tả nó bằng toán học?

Allan Sandage, người được hầu hết các nhà khoa học xem như cha đẻ của thiên văn hiện đại, người khám phá ra quasars và đoạt Giải Crafoord, một giải thưởng thiên văn học sánh ngang với Giải Nobel, không do dự gì để trả lời: “Tôi thấy không thể xảy ra chuyện trật tự sinh ra từ hỗn độn. Ắt phải có một nguyên lý tổ chức nào đó. Đối với tôi, Chúa là một bí ẩn nhưng là lời giải thích đối với phép lạ của sự tồn tại ─ tại sao phải có cái gì đó chứ không phải là hư không”

Trong khi cố né tránh bằng chứng rõ ràng đối với sự tồn tại của trí tuệ thông minh thần thánh đằng sau Tự Nhiên, các nhà khoa học vô thần bị ép buộc phải gán ghép sức mạnh sáng tạo cho những ứng cử viên ít được tin cậy như khối lượng / năng lượng và các định luật tự nhiên, vì chính bản thân những lý thuyết do họ nêu lên nhằm gạt bỏ “Chúa của những khoảng trống”[3]đều mang tính phỏng đoán rất cao và không thể nào kiểm chứng được.

Đó là tình trạng bế tắc của khoa học theo chủ nghĩa tự nhiên. Bằng mọi giá các nhà khoa học theo chủ nghĩa này phải thoát ra khỏi bế tắc đó. Không có bất kỳ một thực tế nào giúp họ tìm thấy lối thoát. Họ buộc phải phỏng đoán, rồi từ phỏng đoán tạo dựng nên những giả thuyết mới. Đưa các phương trình toán học vào để tạo cho nó một “vẻ đẹp quyến rũ của khoa học” để dễ bề thuyết phục đám đông. Đó là lý do ra đời những lý thuyết “khủng”, làm cho những người mắc bệnh sùng bái khoa học (scientism) mở to mắt thán phục, tin đó là “khoa học hiện đại”. Nhưng những người có bản lĩnh khoa học và triết học thì biết đó chỉ là những cái thùng rỗng kêu to, bởi “Vô nghĩa vẫn là vô nghĩa, cho dù được nói ra bởi những nhà khoa học nổi tiếng thế giới”, như John Lennox đã nói.

(Còn tiếp)

Nguồn: viethungpham.com

Ảnh: play.goodle.com

Bài vở cộng tác hoặc góp ý xin gửi về tintuc@hoithanh.com

‘Thêm Nhiều Em Nhỏ Đã Nghe Nói Về Chúa Giê-xu Qua Những Chiếc Hộp Giày’: Chương Trình Tặng Quà Giáng Sinh Cho Trẻ Em Của Edward Graham Lauds

Edward Graham, cháu trai của Mục-sư Billy Graham quá cố, cho biết Chiến-dịch “Christmas Child” (tạm dịch: Chương trình tặng quà cho trẻ em mang tên “Giáng Sinh và Con Trẻ”) đang tiếp cận nhiều trẻ em và những người từ trước đến nay chưa được nghe Phúc Âm hơn bất kỳ sự kiện truyền giáo toàn cầu nào khác. 

Graham, phó chủ tịch phụ trách các chương trình và quan hệ chính phủ của Chiến-dịch Christmas Child cho biết: “Nhiều trẻ em đã được nghe nói về Chúa Giê-xu qua những buổi phân phát hộp giày như thế này, hơn cả trong những buổi truyền giảng của ông tôi tại các sân vận động trước đây.”

Chiến-dịch Christmas Child là một dự án của tổ chức Samaritan’s Purse. Mỗi năm, những người tham gia sẽ bỏ đầy quà vào những chiếc hộp có kích cỡ như hộp đựng giày và gửi chúng đến hơn 160 quốc gia trên khắp thế giới.

Tại một ngôi làng ở Châu Phi vào năm 2016, những món quà trong hộp đựng giày của Chiến-dịch Christmas Child đã được chuyển đến cho trẻ em Himba. Bộ lạc Himba bao gồm khoảng 50.000 người bán du mục, những người chủ yếu thực hành tục thờ cúng tổ tiên.

Chiến dịch này khi đó đã tiếp cận với khoảng 130 trẻ em trong làng, 46 trẻ em và 6 người lớn sau đó đã mong muốn tiếp tục được tìm hiểu về Chúa Giê-xu.

Đối với những em này, Chiến-dịch Christmas Child có chương trình đào tạo môn đồ gồm 12 bài học, gọi là The Greatest Journey ( Tạm dịch : “Hành Trình Tuyệt Vời” ), lớp học này sẽ cho các em biết thế nào là một Cơ-đốc nhân và cách chia sẻ sứ điệp Phúc Âm cho người khác.

Graham chia sẻ, “Một em nhỏ sẽ không bận tâm về quá nhiều điều, một em nhỏ sẽ đi ra ngoài và sống theo đức tin của chúng và chúng rất dạn dĩ. Tôi đã thấy điều đó ở Mexico và nó đang xảy ra ở đây với người Himba. Đây là những nhóm người chưa được rao giảng, những em nhỏ chưa bao giờ được nghe Phúc Âm. Chúa đang sử dụng những thứ đơn giản, như là một chiếc hộp đựng giày chứa đầy đồ chơi để tiếp cận những linh hồn còn trong bóng tối. Tôi yêu điều đó và tôi rất hào hứng với nó”.

Theo tờ The Christian Post, dân làng hiện có một tòa nhà để làm nhà thờ, nơi có khoảng 100 người Himba nhóm lại để thờ phượng.

Graham chia sẻ, “Cũng giống như những gì chúng tôi đã thấy ở Mexico, ngôi làng đó rất tự hào về nhà thờ của họ là nơi mà họ thờ phượng Chúa. Và họ cũng muốn những ngôi làng khác, họ muốn hàng xóm của họ nhìn thấy, và họ đã đi ra và chia sẻ tin tức đó, thông điệp đó và Phúc Âm. Khi nhìn thấy những điều này tôi cảm thấy thật khích lệ”.

Dịch: Hoàng Gia

Nguồn: Christianheadlines.com

Bài vở cộng tác và góp ý xin gởi về tintuc@hoithanh.com