Leaderboard Ad

Đất Quảng Nam – Chiếc Nôi Của Tin Lành Việt Nam

0

topHoithanh.com -Tiếp tục trong chuỗi bài viết nhân kỷ niệm 100 năm Tin Lành đến Việt Nam, Hoithanh.com xin giới thiệu bài viết của một tôi tớ Chúa tại Quảng Nam với tựa đề “Đất Quảng Nam – Cái Nôi Của Tin Lành Việt Nam”. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả và tâm tình của một người sinh ra, lớn lên và hầu việc Chúa tại mảnh đất miền Trung này. Hoithanh.com xin ghi nhận công khó của tác giả. Ban biên tập tiếp tục kêu gọi sự cộng tác của tôi con Chúa khắp nơi để cùng viết về những chủ đề liên quan đến sự kiện 100 năm Tin Lành đến Việt Nam, hầu tỏ bày sự vinh hiển của Chúa giữa vòng dân Việt.


Như nhiều người trong chúng ta đã biết, đạo Tin Lành đã được truyền bá và phát triển ở Việt Nam đến năm 2011 đã tròn 100 năm. Thực ra là từ nhiều năm trước đó, Phúc Âm cứu rỗi đã được truyền vào Việt Nam rồi, nhưng mãi đến năm 1911, Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp (CMA) mới đặt được cơ sở đầu tiên tại Đà Nẵng để truyền bá đạo Chúa. Cho nên người ta lấy cái mốc năm 1911 làm năm đạo Tin Lành được truyền bá vào Việt Nam. Và cũng chính từ vùng đất Quảng Nam nầy, đạo Tin Lành được truyền bá ra nhiều tỉnh thành khác trong cả nước ta cho đến ngày nay. Vì thế, Quảng Nam (*) trở thành “cái nôi” của đạo Tin Lành ở Việt Nam.

100 năm qua, với biết bao thăng trầm của lịch sử, nhưng Chúa đã bảo vệ, giữ gìn và phát triển đạo Chúa đến ngày hôm nay trên mảnh đất hình chữ S yêu quý nầy cách kỳ diệu, và đặc biệt là trên mảnh “đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm” sâu nặng nghĩa tình, chan chứa yêu thương của miền Trung nước Việt.Thật đúng như lời chính Chúa Giê-su đã phán: “Ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó.” (Ma-thi-ơ 16: 18).

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Tin Lành đến đất nước ta, tôi – một tôi tớ hèn mọn của Chúa Giê-su, một người con của quê hương Quảng Nam yêu dấu, “cái nôi của đạo Tin Lành ở Việt Nam”, xin có một bài viết khảo cứu nho nhỏ về đất và người nơi đây để bạn đọc gần xa được biết thêm về vùng đất sâu nặng đạo lý, nghĩa tình nầy.

I> Đất Quảng Nam Yêu Thương

“Không đi không biết Quảng Đà

Đi rồi mới biết đó là Quảng Nam.”

Đó là một câu ca mà người Quảng Nam thường hay hát.

Danh xưng vùng đất mang tên Quảng Nam nầy ra đời và tồn tại cho đến nay là bao nhiêu năm? Hẳn không phải người Quảng Nam nào cũng biết. Theo “Tìm hiểu con người xứ Quảng” do Nguyên Ngọc chủ biên thì: “Danh xưng Quảng Nam ra đời và tồn tại cho đến cuối thiên niên kỷ thứ hai là 528 năm (1472-2000).”(1)

Cái nghĩa của tên Quảng Nam là gì? Cũng theo Nguyên Ngọc trong “Tìm hiểu con người xứ Quảng”: “Quảng có nghĩa là mở rộng; Nam là hướng Nam, đi về phương Nam.” (2). Như vậy, Quảng Nam có nghĩa là vùng đất mở rộng về hướng Nam. Tên gọi vùng đất nầy cũng thay đổi qua

nhiều thời kỳ khác nhau. Lúc đầu tiên tên gọi là Thừa tuyên Quảng Nam (1472), sau đổi thành xứ Quảng Nam (1490), Trấn Quảng Nam (1509) (3), Doanh Quảng Nam (1602), rồi lại tiếp tục đổi thành Trấn…Năm 1808, đổi thành Dinh Quảng Nam dưới thời vua Gia Long. Tiếp theo đổi thành Tỉnh Quảng Nam vào năm 1832, dưới thời vua Minh Mạng.

Quảng Nam có hình thể như một hình bình hành, diện tích tự nhiên 11.989 km2. Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, Nam giáp Tỉnh Quảng Ngãi và Kontum, phía tây giáp nước Cộng hoà dân chủ Lào và phía đông giáp biển Thái Bình Dương.

Dù không nhiều sông rạch bằng vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng Quảng Nam cũng có một mạng lưới sông ngòi khá dày tạo thành một hệ thống giao thông đường thuỷ nội địa rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của người dân. Trong đó sông Thu Bồn (còn gọi là sông Chợ Củi) phát nguyên từ hai nguồn: nguồn Chiên Đàn (tây bắc Tam Kỳ) và nguồn Ô Gia (tây Đại Lộc). Sông Thu Bồn kể từ nguồn Chiên Đàn chảy ra đến Cửa Đại là sông dài và lớn nhất của Quảng Nam(4). Sông Thu Bồn trở thành động mạch chủ của hệ thống giao thông ấy. Sông Thu Bồn như chẻ đôi Tỉnh Quảng Nam ra làm hai từ Tây sang Đông. Thu Bồn là hình ảnh rất sinh động, thân thương đã thấm sâu vào trong tiềm thức người dân xứ Quảng. Tường Linh-một thi nhân hiện đại, là một người con Quảng Nam đã viết về dòng sông đáng yêu của quê mình với tình cảm rất sâu đậm như sau:

Tôi nghĩ về một giòng sông

Giòng sông quê hương có đôi bờ đất mật.

Có những tên làng tôi yêu mến nhất.

Có những triền xanh, gành xám, bãi vàng,

Những hàng cừ xe gió nước reo vang,

Những thác xiết nhọc nhằn thuyền lên ngược.

Nguồn hai ngã, lòng sông chung nguồn nước.

Khúc cạn, khúc sâu, phía lở, phía bồi.

Sông Thu Bồn thương nhớ của ta ơi!

Nhà tôi ở bên bờ sông đó.

Mùa bấc, mùa nồm sông lồng lộng gió,

Hàng cau vườn chuối xiêu xiêu,

Chiều nhẹ nâng cao vút cánh diều

Nắng phớt lưng sườn núi tím.

Tháng tám nguồn về trái lòn bon ngọt lịm.

Ghe biển đưa lên con cá nục, cá sòng.

Bè gỗ lềnh bềnh thong thả xuôi sông.

Trên bãi sớm bủa tằm nghiêng hứng nắng.

Điệu hát chèo ghe trong đêm bình lặng,

Toả ân tình thêm ngát ánh trăng khuya…

Một thuở đao binh

Nguồn biển chia lìa

(…)

Trả lại dòng sông, trả lại cho anh.

Từng vết bàn chân trên cát vàng tuổi nhỏ…

Ai có vẻ bên bờ sông đó,

Đếm giùm tôi bao bến nước vắng thuyền.

Còn sót đọt tre nào chấm mặt thuỷ triều lên

Mấy độ trăng tròn, trăng khuyết.

Dòng sông trôi, dòng sông trôi biền biệt.

Giòng nhớ thương chảy mãi qua hồn.

Ơi! Thu Bồn ta biết nói gì hơn!

Khi nói đến Quảng Nam mà không nhắc đến sông Thu Bồn thì đó là một thiếu sót lớn. Hồ Trung Tú cho rằng: “Sông Thu Bồn đã đóng một vai trò không hề nhỏ trong suốt chiều dài lịch sử, góp phần tạo nên những vùng bản sắc khác nhau, không thể bỏ qua trong bất cứ nghiên cứu nào về tỉnh Quảng Nam.” (5)

Khi nói đến Quảng Nam, cũng không thể không nói đến Mỹ Sơn và Hội An. Đó là hai di sản văn hoá của thế giới. Hai địa danh nầy, theo đánh giá của các chuyên gia: “ Mỹ Sơn là di tích làm nổi bật sự giao lưu văn hoá, đặc biệt nghệ thuật và kiến trúc Ấn Độ giáo, phản ánh sinh động vai trò của vương quốc Champa trong lịch sử văn hoá Đông Nam Á; khu phố cổ Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật trong sự giao hoà của các nền văn hoá.” (6).

Đất Quảng Nam sâu nặng nghĩa tình nầy, “một khúc ruột của miền Trung nước Việt” cũng được Tạo Hoá ban cho những sản vật, những món ăn ngon nổi tiếng khắp nơi. Hãy nghe một người con Quảng Nam giới thiệu quê mình qua những sản vật, món ngon đó như sau: “Ăn một hột tiêu Tiên Phước, một trái loòng boong Đại Lộc, cam quýt, mảng cầu Đại Bường, lát bò tái(bê thui) Cầu Mống, bát cao lầu Hội An, mì Quảng Phú Chiêm, yến sào Cù lao Chàm, bánh tráng cuốn thịt heo Khuê Trung, Đà Nẵng, cơm gà Tam Kỳ…để thấu hết tình đất, tình người. Ngậm một miếng quế Trà My(cao sơn ngọc quế), hút một hơi thuốc là Cẩm Lệ, Trường Xuân, Bến Đền, nhấm nhí một ngụm rượu cần , tà vạt của người Cơ-tu, Ca-dong, Giẻ triêng, nếm một giọt nước mắm nhỉ Nam Ô, Bàn Thạch để ngất ngây cùng hương sắc xứ Quảng, mặc bộ áo quần tơ lụa Mã Châu, Bảo An, Xuân Đài, nằm trên chiếc chiếu hoa Bàn Thạch, Cẩm Nê, hay bơi thuyền câu cá trên hồ Phú Ninh, vịnh biển Đà Nẵng, hoặc xuôi ngược trên dòng Thu Bồn, Trường Giang, Hàn Giang trong sớm mai hồng, hoặc đêm trăng mộng ảo để thấy bồng bềnh cùng hồn quê…” (7)

Tôi tin chắc rằng, không một người Quảng Nam nào khi xa quê mà không nhớ đau đáu về quê nhà với những sản vật, món ngon ấy. Và cũng không một khách thập phương nào khi ghé thăm vùng đất xứ Quảng mà lại không thòm thèm muốn được một lần thưởng thức một hay nhiều những sản vật, món ngon đó, để rồi nhớ rồi thương đất và người xứ Quảng đáng yêu nầy. Đó là một điều chắc chắn!

so_bcvt_quang_nam_259064

II> Người Quảng Nam Nhạy Cảm Và Giàu Nghĩa Tình

Người Quảng Nam có câu ca dao nổi tiếng nầy:

“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm

Rượu Hồng đào chưa nhấm đà say

Bạn về nhịn ngủ gác tay

Coi ai ơn trọng nghĩa dày bằng em?”

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, người con của Quảng Nam cũng đã viết:

“Đất Quảng Nam chưa đi đã nhớ, Em nói mặn mà vừa gặp gỡ mà đã yêu.”

Đó là những câu ca dao, câu hát nói về đất và người Quảng Nam. “Ơn trọng nghĩa dày”, người Quảng Nam là con người như thế, rất nhạy cảm, coi trọng ơn nghĩa, coi trọng tình nghĩa con người. “Chưa đi đã nhớ, …vừa gặp gỡ mà đã yêu”. Người Quảng Nam về kinh tế có thể còn nghèo, nhưng về mặt tình người thì không nghèo. Đó là một điều đáng quý.

Người Quảng Nam có những đặc điểm nào?

Trước hết, người Quảng Nam là người hay lý luận, đó là một điều không ai chối cãi. “Quảng Nam hay cãi” mà lị! Nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển, một nhạc sĩ nổi tiếng quê Quảng Nam có một nhận xét rất lý thú về “quán tính cãi” của người Quảng Nam như sau: “Về cơ bản, người Quảng Nam nào cũng đắc thủ được công phu cãi; chỉ khác nhau ở chỗ thâm hậu hay hời hợt, nhiều hay ít, cãi lớn hay … cãi nhỏ. Công phu cãi trở thành quán tính của người Quảng Nam đến nỗi ra trước một đám đông, nghe một ai đó nói một chuyện sai sự thật mà không có ai lên tiếng cãi lại thì ta có thể kết luận trong đám đông ấy không có người Quảng Nam nào.” (8)

Một trong những “thầy cãi siêu đẳng” của Quảng Nam là Phan Khôi, người đã “sáng tạo” và khởi xướng phong trào thơ mới ở nước ta vào những năm 30 của thế kỷ trước. Với bài thơ “Tình già” nổi tiếng, Phan Khôi đã đem thơ mới “trình chánh giữa làng thơ”. Cũng với bài “Tình già”, Phan Khôi đã thực sự đem thơ mới …“cãi lại thi ca cổ điển”(chữ dùng của Vũ Đức Sao Biển trong tác phẩm “Quảng Nam hay cãi” đã trích dẫn-NV) một cách rất rõ ràng. Qua đây, ta thấy rằng, một trong những đặc điểm nổi bật của người Quảng Nam, đó là “họ thường là những người khởi xướng nên những trào lưu mới” (9). Hay:“Bản chất, nguồn gốc của con người xứ Quảng là Đổi mới, đi tìm cái mới.” (10). Phạm Phú Thứ là một trong những nhà duy tân sớm nhất của nước ta, từng được mệnh danh là ông tổ duy tân của Việt Nam. Phan Châu Trinh là người khởi xướng một con đường đi mới cho cuộc cứu nguy dân tộc, ông là người đã “đẩy vua quan vào hậu trường, đẩy Nho giáo vào tàng viện, đặt dân quyền lên ngai vàng”(11).

Người Quảng Nam cũng nổi bật về sự cứng cỏi trong tính cách của mình. Không ai dễ gì lay chuyển được tính cách của con người Quảng Nam. “Trước các tình thế phải giải quyết, người Xứ Quảng thường có xu hướng chọn giải pháp rắn, mạnh” (12)

Người Quảng Nam có tài hoa không? Câu trả lời chắc chắn là có. Người tài ở Quảng Nam ở thời nào cũng có và có nhiều nữa là đàng khác. Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) là một người Quảng Nam điển hình. Ông là một nhân vật có tài kinh bang tế thế, có một tầm nhìn chiến lược rộng lớn. Ông xứng đáng là một nhà tổ chức tài ba, một nhà chính trị, quân sự, kinh tế kiệt xuất(13). Chính ông là người chỉ huy chủ chốt cho đào con kênh nổi tiếng Vĩnh Tế(Vua Minh Mạng đã quyết định lấy tên vợ Thoại Ngọc Hầu để đặt tên cho dòng kênh kỳ vỹ này) kéo dài từ An Giang xuống tận Hà Tiên, dài gần 100 km, làm thành một tuyến biên giới bằng sông nước vững chắc. Phạm Phú Thứ (1821-1882) là một trong những nhà duy tân sớm nhất, được coi như là ông tổ của duy tân Việt Nam. “Cụ tiêu biểu cho một trong những tính cách đặc trưng của người Quảng: không dị ứng với cái mới, cái tiến bộ mà bao giờ cũng muốn tiếp cận, tìm hiểu cặn kẽ.”. (14)“Với tầm nhìn canh tân của Phạm Phú Thứ trên nhiều lĩnh vực và có tầm khái quát lớn, theo tôi, không quá lời khi đánh giá cụ là một Nguyễn Trường Tộ của Quảng Nam.” (15). Đầu thế kỷ 20, Quảng Nam lại xuất hiện một nhà duy tân đặc sắc, đó là Phan Châu Trinh, “đến nay được nhiều nhà sử học coi là một bộ óc minh mẫn nhất của dân tộc trong những năm đầu thế kỷ.” (16) Ông được nhiều người xem là “Quảng Nam nhất trong những người Quảng Nam.” Ngoài ra có những trí tuệ lớn của Quảng Nam trên nhiều lĩnh vực khác nhau mà không ai không biết đến như Trần Quang Diệu, Hoàng Diệu, Trần Cao Vân, Ông Ích Khiêm, Trần Dư, Lê Cơ, Nguyễn Duy Hiệu, Thái Phiên, Nguyễn Thành(Tiểu La), Trần Quý Cáp, Phan Thành Tài, Nguyễn Đình Hoè, Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Thế Mỹ, Phan Khôi, Phạm Ngọc Thạch, Bùi Giáng, Hoàng Tuỵ, Lê Trọng Nguyễn, Phan Huỳnh Điểu, Tường Linh, Vu Gia, Vũ Đức Sao Biển, Nguyễn Nhật Ánh…

Về tôn giáo, người Quảng Nam rất thoải mái trong tín ngưỡng đa thần, vốn dĩ là tín ngưỡng lâu đời của dân tộc. Người Quảng Nam rất “hỗn dung tôn giáo”. Họ thờ cả Phật, cả Quan Công, cả Thần Hoàng, cả Mẫu, lẫn các vị thần Chăm.

Trong suốt lịch sử của mình, người Việt Nam trải qua bốn cuộc giáp mặt văn hoá lớn: văn hoá Phật giáo đến từ Ấn Độ, Nho giáo đến từ Trung Hoa, văn hoá Chăm-pa khi Nam tiến và văn hóa phương Tây trong thời kỳ cận và hiện đại. Hai cuộc sau đã diễn ra chủ yếu trên mảnh đất Quảng Nam giàu tình người và luôn nhạy cảm trước cái mới.

III> Quảng Nam Với Đạo Tin Lành

Với tấm lòng luôn nhạy cảm trước cái mới như vậy, nên ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, khi đạo Tin Lành được các Giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp (CMA) truyền đến Việt Nam thì một người đầu tiên đã tin nhận Chúa, đó là ông Nguyễn Văn Phúc. Hội Thánh đầu tiên được thành lập là Hội Thánh Đà Nẵng.

Và rồi cũng từ mảnh đất Quảng Nam thân yêu nầy, một người Quảng Nam khác đã góp phần dịch Kinh Thánh ra Việt ngữ. Người đó không ai khác hơn là nhà văn, nhà báo cừ khôi Phan Khôi (17)

Một thế kỷ qua, kể từ khi đạo Tin Lành được truyền đến Việt Nam vào năm 1911 cho đến nay phải nói rằng người Quảng Nam đã có đóng góp không nhỏ đối với đạo Chúa. Với một tâm hồn không dị ứng trước cái mới, mà luôn nhạy cảm trước cái mới, nên đạo Chúa đã được người Quảng Nam đón nhận đầu tiên, rồi cũng một người Quảng Nam góp phần phổ biến đạo Chúa ra cho nhiều người Việt Nam khác bằng việc dịch Kinh Thánh ra Việt ngữ. Và như vậy, mảnh đất Quảng Nam yêu quý nầy xứng đáng với danh hiệu là “chiếc nôi của đạo Tin Lành” ở Việt Nam. Từ Quảng Nam đạo Chúa đã được truyền bá đi khắp nơi trong nước, từ thành thị cho đến thôn quê, từ miền xuôi cho đến miền ngược, để rồi đến ngày hôm nay, Tin Lành đã hiện diện trên khắp dãi đất hình chữ S nầy. Mục Sư Lê Hoàng Phu đã cho biết về sự phát triển của đạo Tin Lành ở Việt Nam vào thời kỳ đầu như sau: “Nói chung, sự tăng trưởng mau nhất xảy ra ở tỉnh Quảng Nam ở Trung kỳ, đặc biệt là thung lũng sông Cái, ở Trung bộ Trung kỳ.”(18). Mục Sư Lê Văn Thái cũng có một nhận xét tương tự về sự phát triển đạo Chúa cách mau lẹ tại xứ Quảng Nam: “Hội Thánh Chúa tại miền Trung phát triển rất mau. Số tín đồ tăng gấp đôi hằng năm và chẳng bao lâu thì số tín đồ tại Tourane và các vùng lân cận lên đến số một ngàn người.”; “Làn sóng Tin Lành mạnh như thác lũ. Cách ăn nết ở của tín đồ là những bài giảng sống đầy năng lực biện chứng cho đức tin. Chỉ một thời gian ngắn tiếng nói của Tin Lành đã lan rộng toàn tỉnh Quảng Nam và các vùng phụ cận. Lửa Thánh Linh bùng cháy trong lòng mỗi cá nhân tín đồ. Ánh sáng đã bùng lên trong đêm tối…”(19)

Người Quảng Nam không những đáp ứng mau lẹ với đạo Tin Lành mà tại vùng đất giàu tình nghĩa và nhạy cảm nầy, còn sản sinh ra vô số những Mục Sư, Truyền Đạo cho Hội Thánh của Chúa, trong số đó có rất nhiều những Mục Sư đầy ơn Chúa và có năng lực thực sự. Có thể kể ra đây một số Mục Sư tên tuổi mà nhiều người biết đến với lòng trân trọng: Mục Sư Lê Văn Long, Mục Sư Ông Văn Huyên, Mục Sư Phan Đình Liệu, Mục Sư Lưu Văn Mão, Mục Sư Nguyễn Xuân Vọng, Mục Sư Lê Hoàng Phu, Mục Sư Dương Thạnh, Mục Sư Lê Văn Từ, Mục Sư Nguyễn Xuân Đức, Mục Sư Nguyễn Thỉ, Mục Sư Nguyễn Văn Huệ… Đúng như lời Mục Sư Lê Hoàng Phu đã nhận xét: “Trong nhiều năm tỉnh Quảng Nam đã cung cấp cho các Hội Thánh địa phương khắp ba kỳ phần lớn các Mục Sư cho các Hội.” (20) Hay như lời của cụ Mục Sư Lê Văn Thái đã nói: “Chúa đã ban ơn cách lạ lùng cho công việc Ngài tại tỉnh Quảng Nam. Càng lúc càng có thêm nhiều người mới trở lại với Chúa, trong số đó có nhiều nhà trí thức giàu sang có địa vị trong xã hội bằng lòng tiếp nhận Tin Lành…Một số những nhà trí thức có danh vọng và địa vị tin Chúa trong lúc đó, dâng mình đi học Kinh Thánh để hầu việc Chúa. Họ đã trở nên những Mục Sư, Truyền Đạo đầy ơn. Lớp đầu có các ông Duy Cách Lâm, Lê Nguyên Anh, Trần Mai, Nguyễn Tấn và lớp kế tiếp có các ông Lê Tấn Đặng, Nguyễn Ưng, Nguyễn Đốc, Đỗ Phương, Nguyễn Đích, Trần Tủng.”(21)

Ngày nay, tại vùng đất Quảng Nam, đạo Tin Lành của Chúa Giê-su vẫn đang được tiếp tục phát triển, mặc dù mức độ không nhanh như ở “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Hiện ở tại Quảng Nam, (**) có không dưới 100 Hội Thánh lớn nhỏ, kể tất cả các hệ phái Tin Lành, với số tín đồ độ chừng 20. 000 người. Nếu so với số tín hữu các Hội Thánh vùng đồng bằng trong cả nước (không kể các Hội Thánh người sắc tộc), thì có lẽ số tín hữu và số Hội Thánh tại Quảng Nam chỉ đứng sau vùng Sài Gòn mà thôi(***).

IV> Suy Tư Cá Nhân

Vậy là đã ngót một thế kỷ qua kể từ năm 1911 đến nay, đạo Tin Lành của Chúa Giê-su đã hiện diện trên mảnh đất hình chữ S yêu quý nầy. Từ một vùng đất bị lãng quên, không ai chú ý đến trong việc gieo giống Tin Lành lên mảnh đất ấy, đến nay, sau một thế kỷ, Chúa đã cho có không dưới 2 triệu người đã thuộc về Chúa trên cả nước, trong đó có độ 20.000 tín hữu tại vùng đất Quảng Nam. Chúng ta tạ ơn Chúa về điều đó! Tạ ơn Chúa vì đã có trên 2 triệu người Việt Nam đã trở nên con dân của Ngài, nhưng còn đến trên 85 triệu người Việt Nam chưa thuộc về Ngài nữa, trong đó có độ 1,5 triệu người dân tại Tỉnh Quảng Nam. Điều đó há không làm cho lòng mỗi con dân Chúa chúng ta nóng nảy, sốt sắng trong việc truyền rao Tin Lành của Chúa cho đồng bào thân yêu của chúng ta hay sao? Những con dân Chúa ở tại vùng đất Quảng Nam-nơi được mệnh danh là “cái nôi của Tin Lành” ở Việt Nam có suy nghĩ gì khi thấy còn trên cả triệu người dân trong Tỉnh nhà yêu dấu của chúng ta chưa thuộc về Ngài??? “Hãy nói cho mọi người dân Việt Nam, nói chung, và mỗi người dân trong vùng đất Quảng Nam, nói riêng, biết Chúa Giê-su là ai?” Đó chính là trách nhiệm không được phép chối từ vì bất cứ lý do nào của mỗi con dân Chúa trên đất nước Việt Nam, nói chung, và trong Tỉnh Quảng Nam, nói riêng, vì Chúa yêu thương dân tộc Việt Nam của chúng ta cũng như yêu thương mọi dân tộc khác trên thế gian nầy, không phân biệt chi hết.

Kỷ niệm 100 năm Tin Lành đến Việt Nam là cơ hội quý báu để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn Ngài, vì Ngài đã thương xót dân tộc Việt Nam yêu quý của chúng ta mà dùng Mục Sư A.B. Simpson và các Giáo sĩ phương Tây thuộc các hệ phái Tin Lành như Trưởng lão, Anh quốc giáo, Giám Lý, Báp-tít, Mennonite hiệp lại để truyền bá chân lý cứu rỗi của Chúa Giê-su đến cho dân tộc chúng ta, mà nơi đầu tiên tiếp nhận hạt giống ấy, chính là mảnh đất Quảng Nam giàu tình người của miền Trung nước Việt.

Kỷ niệm 100 năm Tin Lành đến Việt Nam, chúng ta cũng không thể nào không nhớ đến công ơn của những bậc tiền nhân đã chịu biết bao gian lao, khổ nhọc để gầy dựng và phát triển đạo Chúa từ mảnh đất Quảng Nam và lan rộng ra trên cả nước như đã có ngày hôm nay.

Kỷ niệm 100 năm Tin Lành đến Việt Nam, chúng ta cũng không thể nào không nhắc đến tên tuổi của nhà văn, nhà thơ, nhà báo cừ khôi Phan Khôi, một người con ưu tú của đất Quảng Nam, đã góp công lớn vào việc truyền bá Tin Lành cho người Việt Nam qua việc góp phần dịch Kinh Thánh ra Việt ngữ với bản dịch năm 1926, một bản dịch mang đậm chất giọng người Quảng Nam.

Kỷ niệm 100 năm Tin Lành đến Việt Nam không chỉ là dịp để chúng ta dâng lên lời tạ ơn Chúa và bày tỏ lòng biết ơn những bậc tiền nhân, mà đó cũng là cơ hội để chúng ta tiếp tục đẩy mạnh nhiệm mạng trọng yếu của con dân Chúa là rao giảng Tin Lành cho đồng bào Việt Nam yêu quý của mình, ngõ hầu làm cho gần 90 triệu đồng bào Việt Nam được nghe Tin Lành và trong số đó ước ao Chúa sẽ cho có hàng chục triệu người tin Chúa và trở nên con dân của Ngài như chúng ta.

Nguỵên Thánh Linh của Chúa giục giã lòng của từng con dân Ngài tại xứ Quảng Nam, nói riêng, và trên toàn đất nước Việt Nam, nói chung, để mỗi chúng ta hãy bắt tay nhau “nói cho mọi người Quảng Nam, mọi người Việt Nam biết Chúa Giê-su là ai?” ngay trong thời đại chúng ta đang sống.

Lời Chúa trong Rô-ma 10: 15: “Những bàn chơn kẻ rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao!” há không khích lệ mỗi chúng ta sốt sắng rao giảng Tin Lành của Chúa cho đồng bào của chúng ta sao?

Hãy đi và giới thiệu cho mọi người Việt Nam thân yêu biết Chúa Giê-su là ai ngay hôm nay, đó là cách bày tỏ lòng tạ ơn Chúa và tri ân tiền nhân tốt nhất mà thôi.

Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho đồng bào tại xứ Quảng Nam yêu quý của chúng ta cũng như cả dân tộc Việt Nam yêu dấu nầy mà cứu họ trở nên con dân của Ngài trước ngày Chúa Giê-su trở lại. A men!


(*): Quảng Nam: Địa danh “Quảng Nam” được dùng trong bài viết nầy bao gồm luôn cả vùng đất Đà Nẵng, vì trước đây vùng đất Quảng Nam kéo dài từ đèo Hải Vân vào đến giáp vùng đất Quảng Ngãi. Ngày nay, về phương diện địa giới hành chính thì có sự phân chia ra làm hai là Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, nhưng trong lòng của mọi người dân Quảng Nam và Đà Nẵng, thì Quảng Nam và Đà Nẵng luôn là một mà thôi.

Những con số sử dụng trong bài viết chỉ mang tính ước lượng chứ chưa có con số thống kê cụ thể, chính xác.

² Phần chú thích:

(1): Nguyên Ngọc(Chủ biên), Tìm hiểu con người xứ Quảng, NXB. Đà Nẵng, 2005, p.13.

(2): Nguyên Ngọc, sđd, p. 14.

(3): Nguyễn Q. Thắng, Quảng Nam – Đất nước và Nhân vật(I.II), NXB. Văn Hoá Thông Tin, p. 35. (Trong tác phẩm nầy thì cho là tên gọi Trấn Quảng Nam là từ năm 1520).

(4): Nguyễn Q. Thắng, sđd, p. 92.

(5): Hồ Trung Tú, Có 500 năm như thế(bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch sử), NXB. Thời Đại, Đơn vị liên doanh: Phương Nam Book, p. 18.

(6): Lê Minh Quốc, Người Quảng Nam(Ký và Tản văn), NXB. Đà Nẵng, 2007, p. 31.

(7): Hoàng Hương Việt, Sông cạn đá mòn(Tản văn, Hồi ức, Ký sự), NXB. Văn Hoá Thông Tin, 2008, p. 17, 18.

(8): Vũ Đức Sao Biển, Quảng Nam hay cãi(Tạp văn), NXB. Trẻ, 2010, p. 15.

(9): Nguyên Ngọc, sđd, p. 260.

(10): Nguyên Ngọc, sđd, p. 452.

(11): Nguyên Ngọc, sđd, p. 140.

(12): Nguyên Ngọc, sđd, p. 421.

(13): Nguyên Ngọc, sđd, p. 95.

(14): Lê Minh Quốc, sđd, p. 144.

(15): Lê Minh Quốc, sđd, p. 149.

(16): Lê Minh Quốc, sđd, p. 97.

(17): Xem bài viết “Nhà văn Phan Khôi-Người tham gia dịch Kinh Thánh ra Việt ngữ.” của tác giả Nguyễn – Đình – Bùi – Thị, đăng trên tạp chí “Kiến thức ngày nay”, thuộc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TP. HCM, số 739, ra ngày 20. 02. 2011, p. 49.

(18): Mục Sư Lê Hoàng Phu, Ph. D, Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam(1911-1965), Chương trình Thần Học Phúc Âm, TEE, 1996, p. 127.

(19): Mục Sư Lê Văn Thái, Bốn mươi sáu năm trong chức vụ(Hồi ký), Cơ quan Xuất bản Tin Lành, 14, Đại lộ Hồng Bàng, Sài gòn 5, Ấn hành 1971, p. 91, 93 và 94.

(20): Mục Sư Lê Hoàng Phu, sđd, p. 363.

(21): Mục Sư Lê Văn Thái, sđd, p. 41.


Nguyễn Đình Bùi Thị

Bài vở cộng tác góp ý xin gởi về tintuc@hoithanh.com


Bình Luận:

About Author