Leaderboard Ad

Tiểu Sử Cố MSTS Dương Thạnh (Nguyên Quyền Hội Trưởng HTTLVN MN)

1

Cụ Mục sư Dương Thạnh sinh năm 1931 tại Phong Thử – Điện bàn – Quảng Nam trong một gia đình tin Chúa trọn vẹn – Cụ Dương Can, ông nội của cụ là một thầy phù thủy sau khi tin Chúa bèn bỏ nghề và đem tất cả gia đình cũng như hầu hết anh em trong họ tộc về đầu phục Chúa; Thân phụ của cụ là cụ Dương Cần là trụ cột của Hội thánh Phong Thử và Hội thánh Trần Cao Văn, phục vụ Chúa tận trung, gần như là chấp sự trọn đời – khi cụ 90 tuổi vẫn còn dạy các lớp Trường Chúa Nhật “Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Giê-xu Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo”.

Cụ Dương Thạnh được dạy dỗ và lớn lên bằng lời Chúa trong gia đình và trong Hội thánh, thời gian nhà thờ chi hội Phong Thử dời về Lạc Thành cụ chịu lễ Báp têm năm 1943 do Mục sư Hoàng Trọng Vân lúc bấy giờ là chủ tọa Hội thánh hành lễ. Thời gian này Hội thánh Phong Thử được Chúa thăm viếng và dấy lên trong lớp người trẻ tuổi dâng mình đi vào trường Kinh thánh để học lời Chúa làm hành trang cho sự hầu việc Chúa sau này, các bậc phụ huynh hoàn toàn ủng hộ khuyến khích con em mình đi vào đồng lúa thuộc linh và như thế các nam thanh nữ tú trong Hội thánh lần lượt dâng mình hầu việc Chúa – Bây giờ ngồi ngẫm lại ta mới thấy không phải ngẫu nhiên Phong Thử là nơi cung cấp cho Hội thánh Chúa nhiều đầy tớ trung kiên cho Ngài, chính Chúa đã chọn những đời sống tận hiến cho Ngài và Ngài giao nhiệm vụ chăn bầy cho họ. Các bậc tiền nhân của chúng ta được thôi thúc bởi thực trạng “Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì ít” – Cụ Dương Thạnh dâng mình cho Chúa, tham gia học Trường Kinh Thánh Đà Nẵng từ năm 1949 và tốt nghiệp khóa 1951-1952.

Mục sư Dương Thạnh (Quản nhiệm HTTL Đà Nẵng 1974-2002).

Mục sư Dương Thạnh (Quản nhiệm HTTL Đà Nẵng 1974-2002).

Năm 1953, cụ Dương Thạnh lập gia đình với cụ Nguyễn Thị Liên, hai cụ cùng xuất thân từ Chi hội Phong Thử và cùng học Trường Kinh Thánh, hai cụ sinh được 8 con gồm 4 trai và 4 gái. Cũng năm 1953 Địa hạt Trung kỳ bổ nhiệm cụ Dương Thạnh ra Quảng Bình làm chủ tọa Chi hội Đồng Hới và kiêm nhiệm Chi hội Bố Trạch. Năm 1954, đất nước bị chia cắt đồng thời với việc cụ bị động viên đi quân dịch, chức vụ chăn bầy tạm gián đoạn đến hết năm 1958 khi cụ được giải ngũ để trở lại công trường thuộc linh.

Năm 1959 địa hạt Bắc Trung phân bổ nhiệm cụ Dương Thạnh đến chủ tọa Chi hội Hòa Mỹ tại đây hai cụ hầu việc Chúa khoảng 2 năm. Năm 1960 do nhu cầu Hội Thánh – Chi hội Qui Nhơn thiếu người chăn – vâng lời Chúa gọi và vâng theo sự bổ nhiệm của Địa hạt, cụ Dương Thạnh đến chủ tọa chi hội Qui Nhơn tại đây hai cụ cộng tác hầu việc Chúa gần 15 năm.

Mười lăm năm hầu việc Chúa ở Qui Nhơn – Từ năm 1960 đến năm 1974 – Chúa ban phước nhiều trên chức vụ của cụ, từ việc củng cố đức tin cho các tín hữu cũng như giúp họ có nếp sống làm vinh hiển Danh Chúa đến việc truyền giảng mở mang Hội Thánh. Năm 1960 Qui Nhơn chỉ có một Chi hội sau đó 3 năm Chúa cho có thêm Hội nhánh Khu Sáu và sau 2 năm nữa Hội nhánh Phước Hậu được thành lập. Chiến tranh đã đem đồng bào từ các vùng quê không yên bình về thị xã, việc cưu mang giúp đỡ các con cái Chúa tản cư là điểm sáng của cụ Dương Thạnh qua đó nhiều người chưa biết Chúa thấy được tình yêu của Chúa và trở nên môn đồ của Ngài. Điểm sáng khác của cụ là ân cần tiếp khách và quan tâm nhiều đến những người có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ mồ côi, người góa bụa. Cụ Dương Thạnh được phong chức Mục sư 1963 – một lần với cụ Mã Phước Minh và cụ Hồ Xuân Phong – tại nhà thờ Đà Nẵng.

Giữa những năm 60 và đầu những năm 70 Chúa có thêm ơn thêm sức cho cụ và Ngài giao cho cụ lần lượt nhiều công việc và chức vụ kiêm nhiệm khác trong Hội Thánh; Đoàn trưởng Thanh niên Tin Lành Bắc Trung phần, Tổng đoàn trưởng Thanh niên Tin Lành Việt Nam, Thư ký Địa hạt Bắc Trung phần. Năm 1974 cụ giữ chức Phó chủ nhiệm Địa hạt Bắc Trung phần, cũng năm này Chi hội Đà Nẵng mời cụ về làm chủ tọa Hội Thánh. Đến Đà Nẵng thời điểm này cũng là một cột mốc trong đời tận tụy hầu việc Chúa của cụ – khó nhọc thêm nhiều, nước mắt thêm nhiều nhưng ơn lớn Chúa ban cũng thêm nhiều.

Năm 1975 đất nước thống nhất, Hội Thánh Chúa gặp khó khăn trong điều hành và phát triển vì không có tư cách pháp nhân, các đầy tớ Chúa khó nhọc hơn trong sự hầu việc Chúa. Cùng với các Mục sư trong Ban trị sự địa hạt Trung Trung bộ, cụ Mục sư Dương Thạnh không ngại khó trong việc thăm các Chi hội nhất là các Chi hội không thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, mỗi khi các cụ ra đi, gia đình và Hội Thánh hiệp chung cầu nguyện xin Chúa gìn giữ đến khi các cụ về đến nhà thì gia đình và Hội Thánh mới thở phào nhẹ nhõm. Hội đồng bồi linh của tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng hằng năm thực chất là hội đồng bồi linh Địa hạt. Năm 1983, cụ Mục sư Mã Phước Minh chủ nhiệm Địa hạt lâm trọng bệnh, ban Trị sự Địa hạt cử cụ Mục sư Dương Thạnh giữ chức quyền chủ nhiệm Địa hạt để điều hành công việc Chúa chung. Công việc thật nhiều và thật nặng nề nhưng tạ ơn Chúa lúc bấy giờ con dân Chúa khắp nơi không kể là Mục sư hay Truyền đạo hay là tín hữu hoặc Chi hội này – Chi hội kia, Địa hạt này – Địa hạt kia đều có tinh thần yêu thương chia sẻ và hiệp một nên cũng như các đầy tớ Chúa khác, cụ Mục sư Dương Thạnh luôn vui thỏa trong chức vụ và phước hạnh Chúa ban. Cụ có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng chức vụ người chăn bầy – Các khóa tu nghiệp của cụ Mục sư Truyền đạo trong hạt tuy diễn ra trong thầm lặng nhưng mỗi khi có cơ hội thì mở ra, việc phong chức Mục sư không phải dễ dàng vì cần phải được sự đồng ý của chính quyền nhưng với tính nhẫn nại và hạ mình của cụ một số đầy tớ Chúa trong hạt được phong chức Mục sư.

Hai mươi tám năm (1974 -2002) chủ tọa chi hội Đà Nẵng Chúa cho luôn được phước, cụ Mục sư Dương Thạnh để nhiều thì giờ tâm giao với Chúa và soạn bài giảng để đem lời Chúa nuôi chiên của Ngài. Có những năm ở nhà thờ Đà Nẵng vì lý do khách quan không một ai khác được giảng dạy và hướng dẫn buổi nhóm ngoài cụ, việc này chẳng thể làm hao mòn sức khỏe của cụ nhưng cụ được khỏe hơn và Hội Thánh cũng không hề chán vì cứ phải nghe một bài giảng của một Mục sư. Thật là “Mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” và “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi”. Cụ không sờn lòng lo việc truyền giảng mặc dầu có buổi không có người tin nhận Chúa vì thế Hội thánh cứ chuyên tâm rao giảng và luôn có tín hữu mới thêm vào Hội Thánh và chính những tín hữu mới sau này dấy lên thành các Chấp sự, các Nhân sự trong ban truyền giảng của Hội Thánh. Cụ coi trọng công tác huấn luyện, Hội Thánh thường xuyên mở các khóa huấn luyện không chỉ cho Chi hội của mình mà còn hỗ trợ các Chi hội khác: lớp bồi dưỡng giáo viên Trường Chúa Nhật, lớp tập huấn cho nhân sự truyền giảng, cho cá nhân chứng đạo và các lớp học Kinh Thánh ngắn ngày, đặc biệt là khóa học về cuộc đời Chúa Cứu Thế tạo nền cho lứa các Truyền đạo tình nguyện sau này. Cụ là tấm gương cho tín hữu về tinh thần trách nhiệm và sẵn sàng làm công việc Chúa khởi đầu từ công việc nhỏ nhất. Các con cái Chúa tại Chi hội Đà Nẵng không quên cảnh cứ 4 giờ 30 sáng vị Mục sư chủ tọa hằng ngày tự tay mở cửa nhà thờ sau đó giựt chuông gọi tín hữu đến nhóm cầu nguyện lúc 5 giờ kể cả lúc mưa bão, trong buổi cầu nguyện nếu người được phân công hướng dẫn và chia sẻ Lời Chúa không đến cụ liền làm việc thay người đó. Năm 2001 nhà thờ xây xong, Hội Thánh còn mắc nợ nhà thầu một khoảng tiền lớn, món nợ này luôn canh cánh trong tâm trí và lòng của cụ, có lần giữa Hội Thánh cụ nói cụ sẵn sàng đi tù về việc này, khi nào Hội Thánh có đủ tiền chi trả thì chuộc cậu ra. Năm 2002 sau khi Hội Thánh trả được nợ xây dựng nhà thờ cụ mới thanh thản an tâm rời Đà Nẵng nhận nhiệm vụ mới.

Năm 1999 cụ Mục sư Ông Văn Huyên – Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam về Nước Chúa, di thư cụ để lại ủy nhiệm Mục sư Dương Thạnh thay cụ triệu tập cuộc họp với 5 vị Mục sư là Ủy viên Tổng liên hội và quyền chủ nhiệm các Địa hạt để bàn việc cử người lãnh đạo Hội Thánh chung. Năm 2000, thực hiện di thư cụ cố Mục sư Hội trưởng và cũng vì lúc bấy giờ Nhà Nước thông thoáng hơn với Tin Lành nên sáu vị Mục sư được ủy nhiệm quyết định thành lập Ban vận động gặp Chính phủ xin tư cách pháp nhân và tổ chức Đại hội đồng Tổng liên hội. Trong thời gian 7 tháng giữ chức Trưởng ban vận động – tháng 8/2000 – tháng 2/2001 – cụ Mục sư Dương Thạnh làm việc nhiều, hao mòn sức khỏe nhiều, được nhiều tôi con Chúa thương yêu khích lệ và cầu thay nhưng cụ cũng nhận nhiều những lời công kích ở xa ở gần – thư rơi, thư nặc danh và những lời nghi ngờ châm biếm. Có lẽ có người chưa biết về di thư của cụ cố Mục sư Ông Văn Huyền, có lẽ có người biết về di thư nhưng nghi ngại Mục sư Thạnh không phục vụ Chúa, nhân cơ hội này tự đặt mình lên hội trưởng và phân chia quyền lực trong tổng liên hội, có lẽ còn có lý do nào khác nữa… Vợ con cụ có lúc chịu không nổi những lời đồn đoán xa gần có khuyên cụ thôi làm trưởng ban vận động để an thân hầu việc Chúa. Không quan tâm đến những lời dèm pha, không nghe những lời ngăn trở của vợ con, cụ nương nhờ ơn sức Chúa quyết làm xong công việc Ngài giao. Cụ thường trấn an những người thân bằng câu “Không hề chi!” Chỉ đến khi bầu cử xong Ban trị sự Tổng liên hội ở hội đồng lần thứ 43 – bầu cử hoàn toàn tự do theo sự điều hướng của Chúa, các lời dị nghị và nghi kỵ về Chúa được dở bỏ, đầy tớ Chúa được Ngài bênh vực.

Tháng 2 năm 2001 Đại hội đồng Tổng liên hội lần thứ 43 diễn ra long trọng vinh hiển danh Chúa, trong Hội đồng này cụ Mục sư Dương Thạnh được bầu chức danh Phó hội trưởng thứ nhất. Năm 2002, Mục sư Hội trưởng Phạm Xuân Thiều về nước Chúa, cụ Mục sư Dương Thạnh được Ban trị sự Tổng liên hội bầu chức danh Quyền hội trưởng điều hành công việc Chúa chung lúc này cụ rời Hội Thánh Đà Nẵng vào Sài Gòn. Năm 2003, khi Viện Thánh Kinh thần học mở lại, cụ được giữ chức viện trưởng. Một con người đơn sơ, học vấn không cao, không có gì nổi trội dưới con mắt loài người nhưng tận hiến đời sống cho Chúa, chịu để Chúa chiếm hữu và thử rèn, hết lòng nhờ cậy phục sự Chúa và Chúa đã đại dụng cụ Mục sư Dương Thạnh, cất nhắc cụ lên, giao cho cụ công việc không thực hiện được nếu không có Chúa đồng công “Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh”. Đời sống chức vụ của cụ là một thí dụ sống động về điều gì Chúa cần nơi người hầu việc Chúa.

Bốn năm hầu việc Chúa trong ban trị sự Tổng liên hội là khoảng thời gian đương chức sau cùng của cụ, tuổi cao sức yếu lại thêm bệnh tật nhưng vì nhu cầu Hội thánh cụ làm việc nhiều hơn trước – thăm các Hội thánh, giảng bồi linh, hội họp, tiếp xúc với các đồng lao và tín hữu để giải quyết các sự việc… sức đã yếu lại thêm yếu. Năm 2005 sau Hội đồng Tổng liên hội lần thứ 44 – cụ Mục sư Dương Thạnh xin hưu trí về lại Đà Nẵng ở với con cháu an hưởng tuổi già và sinh hoạt cùng các con cái Chúa đã nhiều năm gắn bó với mình. Năm 2006 bệnh tình nặng thêm phải dùng xe lăn, rất hiếm khi cụ có dịp đến nhà thờ mặc dù vậy cụ vẫn thông công với Hội Thánh qua sự cầu thay. Năm 2009 không còn đứng vững được, nằm một chỗ nhưng không chán nản buồn phiền cụ luôn vui thỏa trong ơn lành của Chúa, luôn khích lệ con Chúa và các tôi con của Chúa khi đến thăm cụ.

Hết lòng lo công việc Chúa nhưng cụ không bỏ quên trách nhiệm với gia đình, luôn dạy con cái sống đạo làm vinh hiển Danh Chúa, sống hữu ích cho nhà Chúa – làm công việc Chúa không phân biệt việc lớn việc nhỏ. Có 2 con trai của cụ tiếp bước dâng mình vào Thánh chức Mục sư Dương Quang Hòa và Mục sư nhiệm chức Dương Quang Nhân, con rể của cụ là Nguyễn Hữu Hòa cùng cháu nội là Dương Quang Thuận….. cũng dâng mình hầu việc Chúa và cháu rể là Mục sư Nguyễn Hữu Ân tại Hội Thánh Living God Church. Khi ôn lại đời sống của người cha, các con cụ đều cảm ơn Chúa vì được sinh ra trong gia đình người hầu việc Chúa, đều bày tỏ lòng thương kính người cha hiền đức – hầu việc Chúa bằng cả tấm lòng, hi sinh, khiêm nhu. Các con cụ đều mong cả gia đình – vợ, chồng, con, cháu, chắt nhắc nhở nhau trong đức tin, không dừng lại, không lùi bước, không một ai ngã quỵ nhưng tiếp tục cuộc đua thuộc linh, noi gương cha ông của mình hướng về miền đất hứa, hết lòng phục vụ Chúa hầu cho giựt được phần thưởng Chúa giành cho trong đất nước vinh hiển của Ngài. Đẹp ý Chúa, vào lúc 8h30 ngày 20/8/2015, Chúa đem cụ mục sư Dương Thạnh vào nước Ngài, kết thúc những ngày sống ở đời tạm.

Vài nét tiểu sử của cụ Mục sư Dương Thạnh, người viết không nhằm mục đích vinh danh hoặc ca ngợi một con người nhưng nghĩ về gương tốt của một tôi tớ Chúa, người thực sự được Chúa chọn chăn chiên của Ngài, luôn gắn bó với bầy chiên, trung tín phục vụ và tận tụy hoàn tất công việc Chúa giao “Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm Ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều. Hãy đến hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi.

Amen

Ông bà Mục sư Dương Thạnh - 27 năm quản nhiệm Hội Thánh Đà Nẵng.

Ông bà Mục sư Dương Thạnh – 27 năm quản nhiệm Hội Thánh Đà Nẵng.

8

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất đền thờ mới.

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất đền thờ mới.

Hình ảnh: Kỷ yếu 100 năm HT Đà Nẵng.

Share.

About Author