Leaderboard Ad

William Carey – Cha Đẻ Của Phong Trào Truyền Giáo Đương Đại

0

HoiThanh.Com – “Kỳ vọng vào những điều vĩ đại; cố gắng đạt những điều vĩ đại.” Trong một buổi họp của những lãnh đạo hội thánh hệ phái Baptist cuối thế kỷ 18, một mục sư mới được phong chức đứng lên tranh luận về tầm quan trọng của công tác truyền giáo hải ngoại. Cậu đã bất ngờ bị cắt ngang bởi một vị mục sư lớn tuổi hơn: “Chàng trai trẻ, hãy ngồi xuống! Anh là một người đầy nhiệt huyết. Nhưng lúc nào Chúa muốn cải đạo những người ngoại giáo thì Ngài sẽ làm điều đó mà không cần hỏi ý của anh hay tôi.” Và chàng trai trẻ với tấm lòng nóng cháy đến phi thường cho công tác truyền giáo hải ngoại đó chính là William Carey.

Con người cần cù

Carey sinh trưởng tại một ngôi làng hẻo lánh của vùng Paulerpury miền trung nước Anh. Cậu là một người thợ học việc tại một cửa hiệu đóng giầy tại địa phương. Là một người sốt sắng với đức tin nơi Chúa, bất chấp hoàn cảnh ít được học hành, chàng trai trẻ Carey đã mượn cuốn sách ngữ pháp tiếng Hy Lạp và tự học sách Kinh thánh Tân Ước tiếng Hy Lạp.

Khi ông chủ của cậu qua đời, cậu đã tiếp tục công việc tại tiệm đóng giầy khác gần Hackleton, cũng tại đây cậu đã gặp Dorothy Plackett – người về sau sinh cho Carey một cô con gái. Nhưng cuộc sống của người thợ đóng giầy rất khó khăn, thu nhập của người thợ đóng giầy ít ỏi, cô con gái đã qua đời khi mới 2 tuổi. Gia đình Carey ngập trong sự khốn khó và vẫn tiếp diễn như thế cả sau khi Carey tiếp quản công việc kinh doanh của tiệm.

Về sau cậu viết: “Tôi có thể làm việc cật lực. Tôi có thể bền đỗ để theo đuổi bất kỳ mục tiêu được định nào.” Trong lúc như vậy, cậu vẫn tiếp tục việc học ngôn ngữ và còn học thêm tiếng Hê-bơ-rơ, La-tinh và trở thành một người giảng đạo của hệ phái Báp-tít Tuyển Dân (Particular Baptist). Cậu cũng tiếp tục theo đuổi niềm đam mê cả cuộc đời về vấn đề quốc tế đặc biệt là đời sống tôn giáo của những nền văn hóa khác.

William Carey – Cha Đẻ Của Phong Trào Truyền Giáo Đương Đại
William Carey

Carey ấn tượng mạnh mẽ với các giáo sĩ của Giáo hội Moravia và càng ngày càng ngạc nhiên vì sự lãnh đạm với công tác truyền giáo của những Cơ đốc nhân Tin Lành. Đáp ứng lại với điều này, cậu đã viết Bản “Tra vấn về Bổn phận của Cơ Đốc nhân sử dụng mọi phương tiện để đem người khác đến với Đức tin Cơ Đốc (An Enquiry into the Obligations of Christians to use Means for the Conversion of the Heathens). Carey lý giải rằng Đại Mạng Lệnh Của Chúa Jêsus được áp dụng cho tất cả những người tin Chúa của mọi thời kỳ và cậu đã trách những người anh em đồng đức tin trong thời của mình đã bỏ qua bổn phận này, trong một đoạn có viết: “Nhiều người đang ngồi khoanh tay thoải mái mà không thèm đoái hoài đến số đông những con người tội lỗi – những người cho đến tận bây giờ vẫn đang hư mất trong sự thiếu hiểu biết và thờ thần tượng của mình.”

Carey đã không dừng ở đó: trong năm 1792 ông đã tổ chức hiệp hội giáo sĩ và trong buổi khai mạc của hiệp hội, ông đã giảng một bài giảng với sự kêu gọi: “Kỳ vọng vào những điều vĩ đại từ Chúa; cố gắng đạt những điều vĩ đại cho Chúa.” Chỉ trong vòng một năm, Carey và một người từng là bác sĩ phẫu thuật John Thomas cùng gia đình Carey gồm ba cậu con trai và một bé chuẩn bị chào đời lên tàu hướng đến Ấn Độ.

Người khách lạ ở một vùng đất lạ

Thomas và Carey đã đánh giá quá thấp về cái giá sẽ phải trả khi sống tại Ấn Độ và những năm tháng đầu tiên của Carey tại đó rất cực nhọc. Khi Thomas bỏ dở công việc kinh doanh, Carey buộc phải rời cả gia đình mình hết lần này đến lần khác trong nỗ lực tìm việc để nuôi sống gia đình. Bệnh tật đã tàn hại gia đình ông và sự cô đơn tại một vùng đất lạ đã khiến ông viết: “Tôi đang ở một vùng đất lạ. Không một người bạn tin Chúa, một gia đình đông người và không có gì để cung ứng những nhu cầu của họ.” Nhưng ông vẫn còn niềm hy vọng: “Nhưng tôi có Chúa và Lời Ngài là chắc chắn.”

Ông học tiếng Bengal nhờ sự giúp đỡ của một học giả Ấn Độ giáo, và trong một vài tuần kế tiếp bắt đầu dịch Kinh thánh sang tiếng Bengal và giảng đạo cho một nhóm nhỏ.

Cho đến khi chính Carey mắc bệnh sốt rét và cậu con trai nhỏ 5 tuổi Peter chết vì bệnh lỵ, nỗi đau đớn đã trở nên quá lớn cho vợ của ông Dorothy khiến bà nhanh chóng suy nhược thần kinh. Bà bị ảo tưởng và cáo buộc Carey ngoại tình và cầm một con dao đe dọa Carey. Cuối cùng Dorothy buộc phải bị nhốt trong một căn phòng.

Carey đã viết: “Đây quả thật là trũng bóng chết đối với tôi.” Bất chấp hoàn cảnh đó, theo một cách rất đặc trưng của Carey, ông viết thêm: “Nhưng dầu vậy tôi vẫn vui mừng vì mình ở đây và Chúa cũng ở đây.”

William Carey – Cha Đẻ Của Phong Trào Truyền Giáo Đương Đại
“Mong chờ những điều tốt đẹp từ Chúa. Nỗ lực gặt hái nhiều điều tốt đẹp cho Chúa” – William Carey

Khả năng ngôn ngữ thiên phú

Vào tháng 10 năm 1799, mọi chuyện cuối cùng đã biến chuyển. Ông được mời đến sống tại khu vực quản lý của người Đan Mạch tại Serampore gần Calcutta. Lúc này ông ở dưới sự bảo vệ của người Đan Mạch và họ cho phép ông giảng đạo một cách hợp pháp (lúc còn ở trong khu vực kiểm soát của người Anh tại Ấn Độ, tất cả công việc giáo sĩ của Carey đều bất hợp pháp).

William Ward – một người thợ in ấn cùng Joshua và Hanna Marshman – những giáo viên đã tham gia công việc với Carey. Tài chính cho công tác truyền giáo đã gia tăng đáng kể khi Ward bắt đầu có được hợp đồng in ấn với chính phủ, gia đình nhà Marshmans mở nhiều trường cho thiếu nhi và Carey bắt đầu dạy trong Đại học Fort William tại Calcutta.

Vào tháng 12 năm 1800, sau 7 năm làm giáo sĩ Carey mới báp-têm được cho một người cải đạo đầu tiên tên Krishna Pal và hai tháng sau ông đã phát hành ấn bản Tân ước tiếng Bengal đầu tiên. Với bản dịch đầu tiên này cùng những bản hiệu đính về sau, Carey và những đồng sự của mình đã đặt nền móng cho việc học tiếng Bengal hiện đại là thứ phương ngữ cho tới lúc đó còn chưa định hình rõ ràng.

Carey tiếp tục kỳ vọng những điều vĩ đại, trong hơn 28 năm kế sau đó ông và một học giả Ấn Độ giáo đã dịch toàn bộ Kinh thánh sang những thứ tiếng của phần lớn dân số Ấn Độ như tiếng Bengal, tiếng Indic vùng Orixa, tiếng Maratha, tiếng Hindi, tiếng Assam và Sanskrit cùng nhiều phần trong 209 các ngôn ngữ và phương ngữ khác.

Ông cũng đã tìm cách để cải cách xã hội tại Ấn Độ bao gồm tục hiến tế trẻ sơ sinh, tục Sati (khi chồng chết, người vợ – thường thì bị ép buộc – chịu thiêu sống để chết theo chồng)…. Ông cùng gia đình Marshmans đã thành lập trường Đại học Serampore vào năm 1818 nhằm đào tạo mục sư người địa phương hầu đáp ứng nhu cầu hội thánh đang tăng trưởng và cung cấp các chương trình giáo dục về nghệ thuật và khoa học cho mọi người, không phân biệt giai cấp hoặc xứ sở. Ngày nay trường đào tạo khoảng 2500 sinh viên.

Tính đến khi Carey qua đời, ông đã dành 41 năm tại Ấn Độ mà không có một kỳ nghỉ phép. Công tác truyền giáo của ông chỉ giúp 700 người cải đạo tại quốc gia có hàng triệu người nhưng ông đã đặt một nền móng đáng kể cho công tác dịch thuật Kinh thánh, giáo dục và cải cách xã hội.

Di sản vĩ đại nhất mà ông để lại đó chính là sự khích lệ, động lực cho phong trào truyền giáo lan khắp thế giới vào thế kỷ 19. Những giáo sĩ như Adoniram Judson, Hudson Taylor và David Livingstone giữa hàng ngàn những giáo sĩ khác đều không chị ảnh hưởng bởi tấm gương của Carey nhưng còn bởi lời mà ông đã nói: “Kỳ vọng những điều vĩ đại; cố gắng đạt những điều vĩ đại.” Có thể coi lịch sử của công tác truyền giáo của phái Tin Lành thế kỷ 19 trong rất nhiều cách là một chương tiếp nối hào hùng của câu nói đó. 

Theo Steven – Loisusong.net
Nguồn Christianity Today
Bài vở cộng tác và góp ý xin gởi về tintuc@hoithanh.com

Bình Luận:

About Author